Chương 1: Tổng quan về các nhân to ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp. Chương 2: Mô hình và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Phân tích các nhân to ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của các doanh nghiệp nước giải khát tại Việt Nam giai đoạn 2010-2022. CHUONG 1: TONG QUAN VE CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN TY SUAT SINH LOI CUA CAC DOANH NGHIEP 1.
Ly luận chung về kha năng sinh lời của các doanh nghiệp 1. Khái niệm về khả năng sinh lời Theo từ điển Kinh tế học “Khả năng sinh lời là một con số đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của một doanh nghiệp trong thời gian dài, giả sử tất cả các điều kiện hoạt động hiện tại nói chung là không đổi. Khả năng sinh lời phản ánh mối quan hệ giữa quy mô và lợi nhuận của một doanh nghiệp trong một thời hạn nhất định” (Nguyễn Văn Ngọc, 2012). Khả năng sinh lời có thé được định nghĩa là việc một tổ chức sử dụng các nguồn lực dé sản xuất hàng hóa với chi phí lớn hơn chi phí sản xuất trong khi van tạo ra lợi nhuận dé duy trì vôn.
Điều này chứng tỏ rằng công ty đang sử dụng vốn hiệu quả và là một khía cạnh quan trọng khác trong việc đánh giá sự thành công của một doanh nghiệp. Ngoài ra, lợi nhuận tốt hơn sẽ đảm bảo hoạt động của công ty hiệu quả, nâng cao giá trị của công ty và tăng vốn đầu. tư của công ty. Tuy nhiên, nếu tỷ suât sinh lời thấp thì việc duy trì vốn cho cả hai yếu tố sản xuất và tiêu dùng sẽ khó khăn, và nếu vượt quá một chút sẽ dẫn đến mat cân bằng tài chính trong công ty.
Do đó, khả năng sinh lời là điều cần thiết dé cho phép các tô chức phát triển, kinh doanh thành công và sản xuất nhiều loại hàng hóa. Tỷ suất sinh lời là một thước đo quan trọng dé đánh giá khả năng sinh lời của mỗi công ty và là cơ sở dé xác định liệu các quyết định mà công ty đưa ra có thực sự cần thiết cho sự tồn tại và mở rộng của công ty hay không. Các chỉ số sau đây có thé được sử dụng dé danh gia ty suat sinh loi: Ty suất sinh lời trên tong tai san (ROA), Ty suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) 1. Các chỉ tiêu do lường kha năng sinh lời của các doanh nghiệp Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu-ROE (Return on equIty): hay còn được coi là tỷ suât lợi nhuận trên vôn chủ sở hữu: “Là một trong những thước đê đo lường khả năng sinh lời của một doanh nghiệp.
Có thê nói đó là một tỷ lệ dùng đê mô tả tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận mà một doanh nghiệp tạo ra cho chủ sở hữu”. Đây là phương tiện dé có thé phan biệt giữa các công ty cùng ngành có quy mô khác nhau hoặc giữa vô số dự án mà công ty đang thực hiện. Có một điều hiền nhiên là việc quản lý của các nhà lãnh đạo công ty sẽ thích tăng doanh thu và lợi nhuận từ vốn tự có của họ đối với các công ty có ROE cao. Công thức 1: Xác định ROE: ROE = Lợi nhuận sau thuế 100 (% = “Vấnchủsởhữu “10 (%) Trong đó: - Loi nhuận sau thuê được tính băng sô tiên còn lai sau khi các khoản nợ, thuê và chi phí khác đã được thanh toán.
- Von chủ sở hữu có thê xác định bởi tông tài sản trừ với sô nợ đã thanh toán. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) đo lường khả năng sinh lời của một công ty liên quan đến số vốn mà công ty đã đầu tư; nếu tỷ lệ này là tích cực, công ty đang ở trong tình trạng khả quan. Nói một cách đơn giản, nó thể hiện khả năng sinh lời của công ty chứ không phải sô tiền đầu tư vào doanh nghiệp. Tuy nhiên, cân nhắn mạnh răng cô phiếu ưu đãi không nên được chuyên đồi thành cô phiếu của cô đông vì làm như vậy có thê gây tôn hại đến danh tiếng của công ty bằng cách thêm trách nhiệm nợ mới cho khách hàng hoặc đối tác.
Ty suất lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) Nhờ có chỉ số ROA - tỷ suất lợi nhuận ròng trên tong tài san, nhà đầu tư có thé dễ dàng nhận thấy sự an toàn trong quá trình quản lý vôn của mình bởi nó thé hiện rõ ràng tỷ suất lợi nhuận sau thuế thu nhập trên tong giá trị tài sản của mỗi doanh nghiệp. Công thức 2: Xác định ROA ROA = “9 Tổng Thuậntàisausanthue 100 (%) Trong đó: - Lợi nhuận sau thuế: Doanh thu trừ đi chi phí sản xuất, dich vụ - Tài sản: Vốn chủ sở hữu và vốn vay nợ Theo Kadioglu (2017): “Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) được sử dụng trong khả năng sinh lời các nghiên cứu về hầu hết các doanh nghiệp và đo lường thu nhập trên môi đô la tài sản và mô tả mức độ quản lý của doanh nghiệp sử dụng các khoản đầu tư tài sản thực tế dé tạo ra lợi nhuận. Lợi tức càng cao thì việc phan bồ các nguồn lực kinh tế càng hiệu quả và năng suất”. Do đó, các nhà đầu tư có thé xác định liệu các doanh nghiệp có thành công chuyên tài sản thành tiền mặt hay không bằng cách xem tỷ lệ ROA.
Bởi vì ROA cho thấy các doanh nghiệp thu được lợi nhuận lớn so với chỉ phí thấp hay không, nên một tài sản có tỷ suất lợi nhuận cao là một kết quả đáng mong muốn. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) - là thước đo lợi nhuận của doanh nghiệp từ việc tham gia vào các hoạt động thương mại và công nghiệp. Công thức 3: Xác định ROS ROS = Lợi nhuận sau thuế x100 (%) Doanh thu Trong đó: Lợi nhuận sau thuế và Doanh thu thuần lấy ở báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của môi doanh nghiệp. Chỉ số nói trên cho thấy một công ty sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng sau thuế cho mỗi đồng doanh thu thuần mà công ty nhận được.
Doanh nghiệp phải cân đối giữa chỉ phí của từng công đoạn của quá trình sản xuất vì chỉ tiêu trên càng cao thì hiệu qua chi phí càng lớn, hiệu quả tài chính càng cao, chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả tài chính càng thấp. Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) hay còn gọi là lãi thuần chính là số tiền mà một công ty kiếm được từ hoạt động mua và bán cũng như cung cấp dịch vụ, còn được gọi là lợi nhuận ròng. Thông qua việc đánh giá tỷ suất sinh lời, việc tính toán NIM sẽ cho phép đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Công thức 4: Xác định NIM Thu nhập lãi—-chi phí lãi NIM = x100 (%) Tổng tài sản bình quân Trong đó: - Thu nhập lãi của doanh nghiệp là cả lãi và các khoản phí liên quan và dai diện cho tông sô tiên doanh nghiệp kiêm được từ các hoạt động kinh doanh - Chi phi lãi của doanh nghiệp là tổng số tiền phải trả dé huy động vốn và các nguồn tài chính khác dé thực hiện các hoạt động kinh doanh - _ Tổng tài sản trung bình của doanh nghiệp là giá trị trung bình của các tài sản của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian được tính toán Một doanh nghiệp có thé tao ra nhiều lợi nhuận hon từ hoạt động của mình khi NIM càng cao.
Mặt khác, NIM thấp có thé là dau hiệu của sự cạnh tranh gay gắt hoặc chi phí hoạt động đắt đỏ. Do đó, đây là một trong những số liệuquan trọng duy nhất được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của một công ty, hỗ trợ các nhà quản lý đưa ra quyết định về cách quản lý tiền, tối đa hóa lợi nhuận và tăng cường khả năng cạnh tranh. Có rất nhiều cách dé đánh giá khả năng sinh lời của một công ty. Tuy nhiên, do tính đơn giản, dễ tính toán và thu thập dữ liệu nên van đề nghiên cứu của nghiên cứu này sẽ tập trung vào kiểm tra tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) để đánh giá khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh đồ uống tại Việt Nam.
Hơn nữa, ROA là thước đo được sử dụng rộng rãi để đánh giá đối thủ cạnh tranh cũng như so sánh hiệu quả hoạt động của các công ty trong cùng lĩnh vực và có quy mô tương tự. Các nhân tổ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp 1. Nhân t6 vĩ mô Tốc độ tăng trưởng GDP Theo tổng Cục thống kê: “Tổng sản phẩm trong nước là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng được tạo ra của nên kinh tế trong một khoản thời gian nhất định (quý, năm). Điều này có nghĩa trong GDP không tính các giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ đã sử dụng ở các khâu trung gian trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm.
GDP biểu thị kết quả sản xuất do các đơn vị thường trú tạo ra trong lãnh thổ kinh tế của một quốc gia”. Vì vậy, tăng trưởng GDP càng cao chứng tỏ đời sống người dân và doanh nghiệp, t6 chức kinh tế càng khởi sắc, giúp doanh nghiệp thu hút thêm nhà đầu tư, tăng sản lượng kinh doanh và thu nhập của người dân, từ đó dẫn đến chỉ tiêu cao hơn, nhu cầu thị trường cao hơn và lợi nhuận doanh nghiệp cao hơn. Cụ thể hơn, điều đó được chứng minh bởi (Huong, Linh, Uyen và cộng sự, 2020) răng tăng trưởng kinh tê quôc gia có tác động tích cực dén khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Lạm phát Khi mức giá chung tăng theo thời gian và giá trị của đồng tiền tiếp tục giảm, một nền kinh tế được gọi là lạm phát trong kinh tế vĩ mô.
Theo sách kinh tế học: “Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó làm suy giảm sức mua hàng hóa trên một đơn vị tiền tệ làm hàng hóa và tiền tệ bị mắt giá trị một cách nghiêm trọng”. Lạm phát sẽ khiến cơ cấu giá của các doanh nghiệp bị lệch, dẫn đến việc phân bổ nguồn lực của các doanh nghiệp sản xuất và phân phối không hiệu quả. Ngoài ra, doanh nghiệp sẽ không có thông tin chính xác và đáng tin cậy về mức giá so sánh dé có thé quyết định định giá trên thị trường khi tốc độ phát trién thay đôi.