Chương I: Tổng quan về di cư và các nhân tô ảnh hưởng Chương II: Phân tích thống kê các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến di cư ở Việt Nam năm 2009 SV: Nguyễn Hoàng Khoa Lớp: TKKT-XH 52 Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. Phạm Dai Đồng CHUONG I: TONG QUAN VE DI CU VÀ CÁC NHÂN TO ANH HUONG 1. M6ts6 vấn đề lý luận chung về di cư 1. Khái niệm về đi cư e Định nghĩa đi cu Trong nghiên cứu về nhân khẩu học cũng như địa lý dân cư chưa có định nghĩa thống nhât vê di cư.
Tuy nhiên cũng có một sô định nghĩa khác nhau về khái niệm di cư. Các nhà nhân chủng học cho rằng những người di cư là những người thường xuyên thay đổi nơi sinh sông của mình trong một giai đoạn nhất định, cả về biên giới hành chính. Người di chuyền là thay đổi chỗ ở còn người di cư là người di chuyên và gia nhập đơn vi hành chính mới. Theo khái niệm của Liên Hợp Quốc: di cư là sự di chuyền từ một đơn vị lãnh thé này sang một đơn vị lãnh thổ khác, hoặc là sự di chuyên về khoảng cách tối thiểu quy định, sự di chuyền này diễn ra trong một khoảng thời gian di dân xác định và được đặc trưng bởi nơi cư trú thường xuyên.
Theo nghĩa khái quát nhất, di cư là sự di chuyên của dân cư từ nơi này đến nơi khác, từ đơn vị hành chính này đến đơn vị hành chính khác. Khái niệm này bao gồm cả những trường hợp di chuyên tạm thời diễn ra hàng ngày, hàng giờ như đi học, đi làm, di mua sam. không thê thống kê được. Vì vậy, nói đến di cư, cần loại trừ những trường hợp di chuyên tạm thời, phải gan cho nó những chuẩn mực nhất định về phạm vi, thời gian, mục dich di chuyên.
Trên giác độ thống kê, có thé hiểu di cư là sự di chuyển của dân cư từ đơn vị hành chính này đến đơn vị hành chính khác, có kèm theo sự thay đổi nơi cư trú. Tuy nhiên, cách định nghĩa duy nhất có thể sử dụng với số liệu của Tổng điều tra Dân số là: người di cu là những người có nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra khác với nơi thường trú hiện tại. Người không di cư là những người có nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra cũng là nơi thường trú hiện tại. Vì vậy dé so sánh giữa các nhóm di cư và không di cư có ý nghĩa, các phân tích trong chuyên đề này sẽ không tính đến nhóm dân số dưới 5 tuôi.
e_ Xuất cư và nhập cư - Xuat cư là việc di chuyền noi ở của người dân ra khỏi một đơn vị hành chính tạm thời hay vĩnh viễn. Hiện tượng này phô biến ở nhiều quốc gia do tình trạng chênh lệch mức sống, thu nhập và lao động. Xuất cư có ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội, nhân khẩu địa bàn nơi đến cũng như nơi di. SV: Nguyễn Hoàng Khoa Lớp: TKKT-XH 52 Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.
Phạm Dai Đồng Nhập cư là sự di chuyên của người dân đến một khu vực hay một đơn vị hành chính khác. Cũng như xuất cư, nhập cư có ảnh hưởng quan trọng đến mọi lĩnh vực ở địa bàn nơi đến và nơi đi. Nơi đi: là nơi người xuất cư rời bỏ hay nói cách khác là nơi sự di chuyên bắt đầu. Nơi đến: là nơi người di cư nhập vào hay ở đó sự di chuyền kết thúc (là vùng cư trú cuối cùng trong khoảng di cư) Di cư thuần túy: Trong một giải đoạn nhất định, một khu vực có thể tiếp nhận người di cư từ nơi khác đến đồng thời mat di những người di cư của chính khu vực ây.
Sự chênh lệch giữa nhập cư và xuất cư gọi là di cư thuần túy hay di cư thuần. Di cư thuần túy đương nếu số người đến nhiều hơn số người ra đi và mang giá trị âm nếu số người nhập cư ít hơn số người xuất cư. Các hình thức di cư Di cư thành thị - thành thị: là hình thức di cu mà người đi cư di chuyên từ khu vực thành thị này đến khu vực thành thị khác, kèm theo sự thay đổi nơi thường trú trong một giai đoạn nhất định. Đây là hình thức di cư pho bién trong giai doan hiện nay.
Ở nước ta có một số luồng chính: luồng di dân Bắc — Nam, luồng di dân từ các thành phố nhỏ, thị xã, thị tran về các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nang, TP. Hồ Chi Minh, Huế, Vũng Tàu, Cần Tho. Di cư thành thị - nông thôn: là hình thức di cư mà người di cư di chuyển theo hướng từ khu vực thành thị đến khu vực nông thôn, kèm theo sự thay đổi nơi thường trú trong một thời gian nhất định. Ở Việt Nam, sau thời kỳ miền Nam giải phóng, một phần dân cư tập trung ở khu vực đô thị của các tỉnh phía Nam trở vê quê cũ làm ăn sinh sống khiến cho số lượng dân đô thị giảm đi trong một thời gian.
Trong giai đoạn hiện nay, di cư đô thị - nông thôn chiếm tỉ trọng rất nhỏ trong các hình thái di cư, đa sô thường là những người hồi cư. Di cu nông thôn — thành thị: là các dòng di chuyển của dân cư theo hướng từ khu vực nông thôn đến khu vực thành thị, kèn theo sự thay đổi nơi thường trú trong một giai đoạn nhất định. Đây là hình thức đi cư chiếm tỷ trọng lớn trong các hình thức di cư. Do thành thị là nơi có cơ sơ hạ tầng, cơ hội việc làm, thu nhập và điều kiện y tế, giáo dục tốt hơn nông thôn nên xu hướng này diễn ra ngày càng phô biến.
Ở Việt Nam từ năm 1986 cho đến nay, 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã đón nhận một lượng lớn dân cư từ các vùng nông thôn tới cư trú. Di cư nông thôn — nông thôn: là các dong di chuyên của dân cư theo hướng từ khu vực nông thôn này đến khu vực nông thôn khác, kèm theo sự thay đổi nơi thường trú trong một thời gian nhất định. Luỗng di cư nay chủ yếu do yếu tố hôn nhân, gia đình.
hơn là lý do điều kiện sống vì ở Việt Nam chưa có sự khác nhau nhiều về các điều kiện kinh tế - xã hội giữa các vùng nông thôn. Hiện nay dòng di dân tự do nông thôn — nông thôn chủ yếu là của nông dân từ các tỉnh phía Bắc vào khu vực Tây Nguyên. SV: Nguyễn Hoàng Khoa Lớp: TKKT-XH 52 Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. Phạm Dai Đồng 1.
Đặc trưng của di cu e Tuổi tác Khả năng và mong muốn di chuyền thay đồi theo từng nhóm tuổi nhất định nên di cư chịu tác động nhiều bởi tuôi của người di cư. Thông thường, người di cư cần có khỏe tốt, khả năng thích ứng nhanh với môi trường sông mới. Vậy nên những người trưởng thành và những người ở tuổi mới lớn di cư nhiều hơn, họ là lực lượng lao động mới, dễ dàng thay đổi hơn. Chính vì chọn lọc trong tuổi tác mà những vùng nhập cư thường có cơ cấu tuổi trẻ hơn.
© Gidi tính người di cư Do nam và nữ có nhiều đặc điểm khác nhau về sức khỏe, gia đình, công việc và quan hệ xã hội nên cơ cấu giới tính cũng ảnh hưởng không nhỏ đến mức độ di cư. Tỷ số giới tinh của những người di cư thay: đổi theo tuôi. Tuy nhiên, các dòng di cư theo nam hay nữ còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. e Tình trạng hôn nhân Tình trạng hôn nhân cũng là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến di cư do nhiều người di cư với lý do liên quan đến việc kết hôn/ ly hôn.
Vì hai người nam và nữ trước hôn nhân thường cư trú ở 2 nơi tách biệt nhau và sau hôn nhân thường chuyển đến cư trú ở cùng một nơi. Do phong tục “lấy chồng theo chồng” nên ở nước ta thường diễn ra xu hướng người nữ chuyên nơi cư trú đến nơi cư trú của người nam nên sự kiện hôn nhân sẽ tác động nhiều hơn đến tỷ lệ di cư đối với nữ đã kết hôn. Ở những nước đang phát triển, thường người trẻ chưa lập gia đình đi cư nhiều hơn. Tuy nhiên ngày nay ở các nước phát triển, những người có gia đình cũng có khả năng di cư như những người chưa có gia đình.
e Nghệ nghiệp, trình độ học vấn Từng có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa trình độ học vấn và sự chọn lọc trong di cư. Những nghiên cứu này tập trung vào sự giống và khác nhau giữa những người có trình độ học van cao và những người ít học liên quan đến khoảng cách, tỷ lệ và hướng di cư. Thực tế cho thấy những người có trình độ, chuyên môn cao hơn thường di cư nhiều hơn. Điền hình và dé nhận thấy nhất ở Việt Nam là sinh viên ở các tỉnh thành đều tập trung học tập và làm việc tại các đô thị lớn.
Các chỉ tiêu đo lường di cu © SỐ người xuất cư SV: Nguyễn Hoàng Khoa Lớp: TKKT-XH 52 Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. Phạm Dai Đồng Số người xuất cư của một đơn vị hành chính là số người di chuyển nơi ở ra khỏi đơn vị hành chính đó trong khoảng thời gian nghiên cứu. Ký hiệu: O — số người xuất cư trong khoảng thời gian nghiên cứu. Số người xuất cư của một đơn vị hành chính cho thay mức độ di chuyên khỏi đơn vị hành chính đó.
e SỐ người nhập cư Số người nhập cư của một đơn vị hành chính là số người di chuyên từ các đơn vị hành chính khác đên đơn vị hành chính đó trong khoảng thời gian nghiên cứu. Ký hiệu: I - số người nhập cư trong khoảng thời gian nghiên cứu. Số người nhập cư đến một đơn vị hành chính cho thấy mức độ thu hút dân cư của đơn vị hành chính đó. e Số người di cư thuần túy Số người di cư thuần túy của một đơn vi hành chính là chênh lệch giữa sé người nhập cư và xuât cư của một đơn vị hành chính đó trong khoảng thời gian nghiên cứu.
Ký hiệu: MN - số người di cư thuần túy trong khoảng thời gian nghiên cứu. MN=I-O Chỉ tiêu này biểu hiện xu hướng di dân của từng đơn vị hành chính: nếu số người nhập cư lớn hơn số người xuất cư thì đơn vị hành chính đó có xu hướng nhập cư; ngược lại nếu số người xuất cư lớn hơn số người nhập cư cho thấy đơn vị hành chính đó có xu hướng xuất cư.