Mở đầu. Chương 2: Tổng quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Thu thập và phân tích số liệu.
Chương 5: Đề xuất biện pháp khắc phục, hạn chế chậm trễ tiến độ do nhà thầu thi công. Chương 6: Kiểm nghiệm thực tế các nguyên nhân gây chậm trễ tiến độ do nhà thầu thi công. Chương 7: Kết luận và kiến nghị. HVTH: Nguyễn Tấn Duy Trang: 3 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Luân CHƯƠNG 2.
Tổng quan về chậm trễ tiến độ thi công 2. Định nghĩa chậm trễ tiến độ thi công Chậm trễ là các hoạt động hoặc các sự kiện có thời gian hoàn thành lớn hơn thời gian cần thiết dự kiến (Stumpf, George R. Trong xây dựng, chậm trễ tiến độ là khoảng thời gian mà các hạng mục của dự án thi công kéo dài hoặc hoàn thành không đúng hạn (Bramble và Callahan, 1987). Nói tóm lại, chậm trễ tiến độ là một tình huống xảy ra mà các công việc sẽ bị thực hiện chậm lại và được hoàn thành không đúng hạn đã đề ra.
Có nhiều cách tiếp cận để phân loại chậm trễ trong xây dựng. Nếu phân loại theo nguyên nhân xảy ra chậm trễ, có các loại chậm trễ như sau: chậm trễ không thể tha thứ, chậm trễ có thể tha thứ - không bồi thường, chậm trễ có thể tha thứ - có thể bồi thường. Phân loại chậm trễ theo nguyên nhân xảy ra. (Nguồn: Theodore Trauner - Construction delay, Second edition, 2009) [16] HVTH: Nguyễn Tấn Duy Trang: 4 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Luân Chậm trễ không thể tha thứ: loại chậm trễ do thất bại của nhà thầu chính hoặc nhà thầu phụ, nhà cung cấp vật tư trong việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Thông thường, hầu hết các hợp đồng không chấp nhận bất cứ đền bù nào cho nhà thầu về thời gian và chi phí do lỗi chậm trễ này gây ra. Ngược lại nhà thầu có trách nhiệm lấy lại tiến độ đã mất hoặc bị phạt do thiệt hại của việc hoàn thành dự án chậm trễ. Chậm trễ có thể tha thứ - không bồi thường: loại chậm trễ này gây ra bởi bên thứ ba, không phải do nhà thầu hay chủ đầu tư mà do các điều kiện bên ngoài như thời tiết, khủng bố, thiên tai, thông thường nhà thầu được kéo dài thời gian hoàn thành dự án nhưng không được đền bù chi phí phát sinh. Chậm trễ có thể tha thứ - có thể bồi thường: loại chậm trễ này gây ra bởi chủ đầu tư hoặc do một bên chủ đầu tư chịu trách nhiệm: tư vấn, ban quản dự án.
Trong trường hợp này các nhà thầu có thể gia tăng thời gian cho công việc của mình và có thể yêu cầu đền bù cho những chi phí phát sinh. Các tác hại của việc thi công chậm tiến độ Theo Arditi et al.(1985), thì sự chậm trễ của các dự án xây dựng dẫn đến hậu quả nghiêm trọng có thể làm chậm sự phát triển của ngành công nghiệp xây dựng nói riêng và ảnh hưởng đến hầu hết các ngành kinh tế khác. Đối với chủ đầu tư: chậm trễ tiến độ làm tăng chi phí, làm giảm doanh thu và sụt giảm thương hiệu. Đổi với nhà thầu: làm gia tăng chi phí và mất uy tín của nhà thầu.
Đối với đơn vị tư vấn: làm giảm niềm tin ở các chủ đầu tư và sự ra đi của các khách hàng tương lai. Các nghiên cứu về chậm trễ tiến độ trong ngành xây dựng (1) Nghiên cứu của Mustafa, Thổ Nhĩ Kỳ (2010) [1] Phân tích khả năng chậm trễ tiến độ trong xây dựng ở Thổ Nhĩ Kỳ, đưa ra 3 loại chậm trễ tiến độ: chậm trễ có thể tha thứ, chậm trễ không thể tha thứ, sự chậm trễ đồng thời; và chia làm 9 nhóm nhân tố gây ra sự chậm trễ: o Nhân tố chậm trễ liên quan đến tư vấn: tư vấn giám sát thiếu kinh nghiệm, mâu thuẫn giữa tư vấn và kỹ sư thiết kế, tư vấn chậm trễ việc phê duyệt những thay đổi lớn trong phạm vi công việc (scope of work) nhà thầu, chậm trễ HVTH: Nguyễn Tấn Duy Trang: 5 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Luân trong việc thực hiện kiểm tra và nghiệm thu, nghiên cứu công trường không chính xác, tư vấn hỗ trợ không đầy đủ cho quản lý dự án, chậm trễ trong xem xét và phê duyệt hồ sơ thiết kế, kém trong thông tin và phối hợp với các bên. o Nhân tố chậm trễ liên quan đến nhà thầu: thường xuyên thay đổi thầu phụ, nhà thầu không đủ kinh nghiệm, biện pháp thi công không thích hợp, bộ phận quản lý dự án thiếu năng lực, lên kế hoạch và tiến độ cho dự án không hiệu quả, công nghệ kỹ thuật cũ, kém trong thông tin và phối hợp với các bên, yếu kém của quản lý công trường và giám sát, phải làm lại do làm sai, nhà thầu phụ không đáng tin cậy. o Nhân tố chậm trễ liên quan đến thiết kế: sự phức tạp của thiết kế, thay đổi thiết kế bởi chủ đầu tư trong quá trình xây dựng, thiết kế bị lỗi do người thiết kế, khảo sát và thu thập dữ liệu không đầy đủ trước khi thiết kế, thiếu kinh nghiệm của đội ngũ thiết kế, sai sót và chậm trễ trong việc hoàn chỉnh hồ sơ thiết kế, sự hiểu nhầm của thiết kế đối với yêu cầu của chủ đầu tư, yếu kém trong việc sử dụng các phần mềm thiết kế tiên tiến, bản vẽ thiết kế cung cấp thông tin không rõ ràng và đầy đủ.
o Nhân tố chậm trễ liên quan đến trang thiết bị: vấn đề phân bổ thiết bị, máy móc thiết bị thường xuyên hỏng hóc, thiết bị không thích hợp, thiếu thiết bị hiện đại, hiệu quả của thiết bị thi công thấp, thiếu thiết bị, huy động thiết bị chậm. o Nhân tố chậm trễ liên quan đến yếu tố bên ngoài: tai nạn trong quá trình xây dựng, những thay đổi trong quy định của chính phủ và pháp luật, xung đột chiến tranh và thế lực thù địch, chậm trễ trong việc xin giấy phép xây dựng, chậm trễ trong việc nghiệm thu và chứng nhận cuối cùng của bên thứ ba, sự chậm trễ trong việc cung cấp các dịch vụ tiện ích như điện, nước…, do khủng hoảng tài chính toàn cầu, mất thời gian do vấn đề kiểm soát giao thông và sự giới hạn mặt bằng của công trường, thiên tai (lũ lụt, bão, động đất…), biến động về giá, vấn đề với công trình lân cận, giải phóng mặt bằng chậm, điều kiện bề mặt và bên dưới mặt đất không mong đợi (loại đất, mực nước ngầm cao), điều kiện thời tiết không thuận lợi (mưa, nắng to). HVTH: Nguyễn Tấn Duy Trang: 6 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Luân o Nhân tố chậm trễ liên quan đến công nhân lao động: do vắng mặt, động lực và tinh thần lao động thấp, năng suất lao động thấp, mâu thuẫn cá nhân trong lao động, thiếu lao động, huy động công nhân lao động chậm, lao động thiếu chất lượng và không đủ kinh nghiệm. o Nhân tố chậm trễ liên quan đến vật tư: thay đổi loại và thông số kỹ thuật của vật tư trong quá trình thi công, nguy hiểm do việc sắp xếp vật tư, chậm trễ trong công tác sản xuất vật tư, sự leo thang của giá cả vật tư, cung cấp vật tư chậm, công tác thu mua vật liệu xây dựng kém, vật liệu xây dựng chất lượng kém, thiếu vật liệu xây dựng, nhà cung cấp vật liệu không uy tín.
o Nhân tố chậm trễ liên quan đến chủ đầu tư: thay đổi yêu cầu, mâu thuẫn giữa các chủ đầu tư - cùng đầu tư dự án, chậm trễ trong việc phê duyệt hồ sơ thiết kế, chậm trễ tiến độ thanh toán, chậm trễ trong việc phân phối đến công trường, sai lầm trong việc nghiên cứu sự khả thi của dự án, thiếu người đại diện có khả năng, chủ đầu tư thiếu kinh nghiệm trong các dự án xây dựng, thiếu sự ưu đãi cho nhà thầu để hoàn thành trước thời hạn, thông tin và phối hợp giữa các bên kém, chậm trong việc ra quyết định, tạm ngưng công trình do ý chủ đầu tư. o Nhân tố chậm trễ liên quan đến dự án: sự phức tạp của dự án, hình phạt cho việc chậm trễ không hiệu quả, tranh chấp pháp lý giữa các bên tham gia dự án, thời gian thi công ngắn theo hợp đồng ban đầu, điều khoản hợp đồng bất lợi (phụ thuộc loại hợp đồng xây dựng như chỉ định thầu, chìa khóa trao tay…, và loại đấu thầu như thương lượng, giá thầu thấp…) (2) Nghiên cứu về xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tiến độ thi công đối với dự án nhà ở công cộng Singapore của Bon-Gang Hwang, Xianbo Zhao, Si Yi Ng, Singapore (2012) [2] đã chỉ ra 18 nhân tố như sau: o Chỉ huy công trường: liên quan đến điều phối vật tư, đôn đốc kỹ sư công trường, kiểm tra dự án và thông tin giữa các bên. o Tài chính của nhà thầu o Sự phối hợp giữa các bên o Sự chuẩn bị về kế hoạch tiến độ và cập nhật o Kinh nghiệm của nhà thầu HVTH: Nguyễn Tấn Duy Trang: 7 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Luân o Biện pháp thi công o Kinh nghiệm của tư vấn o Thiết lập các điều kiện thi công o Tốc độ ra quyết định của chủ đầu tư o Tài chính của chủ đầu tư trong quá trình xây dựng o Thiết kế thay đổi bởi chủ đầu tư trong quá trình thi công o Kinh nghiệm của chủ đầu tư o Thời gian thi công được đưa ra bởi chủ đầu tư o Nhân công, lao động o Nhân viên quản lý dự án o Trang thiết bị o Vật tư o Điều kiện không gian của công trường: bởi vì công trường có điều kiện không gian chật hẹp sẽ gây khó khăn cho việc di chuyển vật tư, thiết bị và công nhân gây chậm trễ tiến độ thi công. Nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tiến độ thi công và xếp hạng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến chậm trễ tiến độ của dự án nhà ở công cộng Singapore, chưa đi sâu tìm hiểu và phân tích nhân tố nào thuộc trách nhiệm của nhà thầu và chưa tìm xem mối quan hệ giữa các nhân tố với nhau.