Chương 1. Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa chính sách tài chính sinh viên đối với động lực học tập của sinh viên trường đại học công lập Chương 2. Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu Chương 4.
Kết luận và kiến nghị 5 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH SINH VIÊN ĐỐI VỚI ĐỘNG LỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm Tài chính Trong từ điển tiếng Việt, "tài chính" được hiểu là một phạm trù kinh tế, mô tả các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới dạng giá trị phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập và phân bổ các quỹ tiền tệ, nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định của các chủ đề trong nền kinh tế [28].
Còn trong từ điển Anh - Việt, “tài chính” được viết là “finance” và được hiểu là “việc nghiên cứu hoặc quản lý các vấn đề về tiền bạc” [29]. Thuật ngữ "tài chính" được đề cập đến trong bài viết của nhóm tác giả Harry Markowitz và William F. Sharpe, Fischer Black và Myron Scholes (1940 - 1950), được hiểu là “những vấn đề liên quan đến việc quản lý, sáng tạo và nghiên cứu về tiền bạc và đầu tư” [1]. Theo The Economic Times (2001), “tài chính” là nghiên cứu các khía cạnh về vấn đề liên quan đến bất kỳ cách sử dụng hoặc quản lý nào về tiền.
Hay rộng hơn là nghiên cứu về vấn đề liên quan đến việc tạo ra, quản lý và nghiên cứu về ngoại tệ, tiền tệ và tài sản vốn. Các nhà khoa học đưa ra khái niệm với các sắc thái khác nhau nhưng tựu chung các nhà nghiên cứu đều nhất trí cho rằng: tài chính là tập hợp những quan hệ kinh tế phát sinh trong việc phân bổ các nguồn lực tài chính thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ để phục vụ nhu cầu đầu tư và chi tiêu của các chủ thể trong xã hội. Ở các trường đại học, tài chính được biểu hiện cụ thể qua hoạt động cách sử dụng ngân sách (thu, chi) và quản lý tiền tệ. Về hình thức, nó phản ánh sự vận động của dòng tiền và quá trình chuyển đổi nguồn lực tài chính.
Về nội dung, nó là các mối quan hệ tài chính được thể hiện qua sự gia tăng trong quá trình quản lý và sử dụng các quỹ tài chính để phục vụ cho việc phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Khái niệm Chính sách tài chính sinh viên Chính sách tài chính sinh viên là tập hợp các quy định của trường Đại học về học bổng, học phí, khen thưởng và các chế độ khác có liên quan đến sinh viên (phụ thuộc vào mỗi trường đại học khác nhau mà sẽ có những chính sách khác nhau, nhưng vẫn dựa trên quy định chung của chính sách Nhà nước). Các chính sách này nhằm đảm bảo các điều kiện và tạo cơ hội tốt thuận lợi nhất cho sinh viên về tài chính, để thúc đẩy tinh thần học tập phát triển. Chế độ chính sách tài chính của nhà nước với học sinh, sinh viên là tổng hợp các quy định của nhà nước về học bổng, học phí và trợ cấp xã hội, bảo hiểm và tín dụng đào tạo; và những chế độ khác có liên quan với học sinh, sinh viên.
Mối quan hệ chính sách tài chính sinh viên trong trƣờng đại học của Nguyễn Tấn Lƣợng (2011) Ngân sách nhà nƣớc Chính sách Đơn vị, tài chính tổ chức Xã hội sinh viên nƣớc trong trƣờng ngoài đại học Nội bộ nhà trƣờng Ngân sách nhà nước ở đây được hiểu là nguồn kinh phí do nhà nước trợ cấp, bao gồm: các khoản thu NSNN đối với sinh viên ở cơ sở GDĐH công lập để thực hiện chính sách, chế độ của Nhà nước với sinh viên học trong các cơ sở GDĐH ngoài công lập; chính sách với sinh viên là con gia đình có công với cách mạng, 7 gia đình thuộc diện chính sách, sinh viên là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số rất ít người. Dành cho sinh viên đang theo học tại trường, các bạn phải thực hiện những khoản thu sau: học phí, lệ phí, chi học phí và tất nhiên, mỗi mức thu sẽ dựa theo yêu cầu đặc thù của từng trường. Đối với nội bộ nhà trường, đó còn là các quy định riêng về chế độ khen thưởng, mức học bổng, nghiên cứu khoa học,. Còn với các viện và các trường Việt Nam bao gồm: hợp tác quốc tế, hội thảo chuyên đề, chương trình trao đổi sinh viên, học bổng quốc tế.
Mô hình hoạt động tài chính của trƣờng đại học công lập ở Việt Nam Theo Hauptman (2006), ông đã chỉ ra bốn nguồn tài chính nhằm duy trì các hoạt động nghiên cứu và đào tạo của các trường đại học công, gồm: nguồn ngân sách Nhà nước, học phí, đóng góp từ cộng đồng và tài trợ từ chính phủ [30]. Khái niệm Động lực Trong từ điển tiếng Việt, "động lực" được hiểu là: động lực để cho máy móc di chuyển, hoạt động; nguồn động lực để khuyến khích và hỗ trợ sự tăng trưởng [28]. Theo từ điển tiếng Anh "động lực" (motivation) có nghĩa là "sự thúc đẩy" [29]. Động lực có thể được chia thành sự ảnh hưởng bên trong và bên ngoài của 8 một người để gây ra sự kích thích, định hướng và thúc đẩy việc theo đuổi mục đích và nỗ lực cá nhân.
Các lý thuyết động cơ quan tâm đến việc giải thích tại sao và làm thế nào hành vi của con người được kích hoạt. Theo Tâm lý học, động lực là yếu tố thúc đẩy con người hành động. Nó truyền tín hiệu đến não bộ, kích hoạt trực tiếp đến hành vi, nhằm cổ vũ bạn cố gắng đạt được mục tiêu, thỏa mãn nhu cầu cá nhân, đồng thời đem lại những năng lượng tích cực trong con người đó [7]. Theo Nguyễn Quang Uẩn (2003), “Động lực là cái thúc đẩy con người hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu của họ, dẫn đến tính tích cực và quyết định xu hướng hoạt động theo hướng tích cực của họ.
Động lực là cái trực tiếp kích thích, là nguyên nhân trực tiếp của hành động” [4;tr. Trong Theory of Expectations (1964), Victor Vroom nhấn mạnh các mối quan hệ động lực được coi là chức năng của những kỳ vọng cá nhân. Nỗ lực cụ thể dẫn đến nỗ lực và hiệu suất cụ thể, dẫn đến kết quả và phần thưởng mong muốn. Merriam - Webster (1997), động lực là hành động hoặc quá trình thúc đẩy.
Nó kích thích hoặc ảnh hưởng để khuyến khích những nỗ lực cá nhân mang tính nguyên nhân và phục vụ để định hướng hành vi của một người. Khi tìm hiểu sâu về khái niệm động lực, ta thấy thường nhấn mạnh đến sự kích thích trực tiếp đến các cá nhân: động lực nội tại - sự tự nỗ lực bên trong hay kích thích bên ngoài - các tác nhân xung quanh. Trong định nghĩa của Kinman & Kinman (2001) và Pinder (2008) nhấn mạnh ba điểm nổi bật: thứ nhất, động lực có thể xuất phát từ 2 phía trong và ngoài của một cá nhân; thứ hai, động lực được xác định là một tập hợp các năng lượng, và chính những năng lượng này kích thích sự hành động của con người; thứ ba, tập hợp năng lượng này có thể tác động 2 mặt tích cực hoặc tiêu cực, góp phần tạo nên hình thức, định hướng, cường độ hành vi của con người. Tóm lại, động lực là động lực bên trong - nghị lực, nhiệt tình, đam mê, khát khao, nhu cầu, hoài bão để con người thực hiện hành động, hoạt động hướng tới mục tiêu nhất định, đạt được mục tiêu thúc đẩy con người thực hiện.
Khái niệm Động lực học tập Động lực học tập có thể hiểu là nhân tố thúc đẩy người học tích cực học tập. Việc hình thành động lực học tập của sinh viên là tổng hợp của các yếu tố như tâm lý, kinh tế, xã hội, tổ chức hành chính, cơ chế, chính sách. Nguyễn Đình Thọ và cộng sự (2013): Động lực học tập của sinh viên phản ánh sự định hướng, mức độ tập trung và nỗ lực của họ trong quá trình tiếp thu nội dung môn học [26]. Theo Phan Trọng Ngọ “Động lực học tập là cái mà hoạt động học tập cần đạt được nhằm đáp ứng nhu cầu.
Hay hiểu đơn giản, người học học vì cái gì thì đó chính là động lực học tập của họ” [5; tr 233]. Hull (1943-1951) nhấn mạnh: Động lực là cần thiết cho quá trình học tập và là điều cốt lõi cho sự thích nghi có hiệu quả. Brown (1994), tìm hiểu về động lực học tập ngoại ngữ của học sinh cho rằng, nếu không có động lực học tập người học sẽ trở nên trễ nải, kém nhiệt tình và việc tiếp thu kiến thức trở nên khó khăn. Ông đã khẳng định: “Động lực học tập chính là sự khác biệt giữa thành công và thất bại.
Người học sẽ học nếu họ có động cơ và sẽ không học nếu họ không có động cơ. Tuy nhiên, các nghiên cứu này nhấn mạnh vai trò các yếu tố như thưởng, phạt mà chưa quan tâm nhiều đến yếu tố môi trường và quá trình hình thành động lực học tập. Huỳnh Văn Sơn (2012) cho rằng: Dưới góc độ của tâm lí học, động lực học tập được phân thành hai loại: động lực hoàn thiện tri thức và động lực quan hệ xã hội. Hai loại động lực này cùng được hình thành ở người học và được sắp xếp theo thứ bậc [8].
Theo Nguyễn Trọng Nhân và Trương Thị Kim Thủy (2014), động lực học tập của sinh viên phụ thuộc vào 3 tiêu chí: chuẩn mực của hoạt động dạy học và rèn luyện, chuẩn mực về sự tương thích giữa môn học với ý thức của SV và đời sống vật chất, tinh thần của SV [9]. Nguyễn Thùy Dung, Phan Thị Thục Anh (2012), nghiên cứu đã chứng minh rằng có 7 yếu tố ảnh hưởng đến động lực học tập tích cực của SV: môi trường học tập; chất lượng giảng viên; chương trình giáo dục; quản lý đào tạo; công tác SV và hoạt động vận động của SV [10]. Nghiên cứu môi trường giáo dục của nước ta, Trung tâm đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục TP. HCM đã được thực hiện tại bốn thành phố lớn bao gồm TP.
HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ đã phỏng vấn và lấy ý kiến 2000 người học về động lực học tập và thu được kết quả như sau: có việc làm tốt trong tương lai: 95%, nâng cao hiểu biết: 94%.