Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Cúc Phương sở hữu tổng diện tích 22.200 ha trải rộng trên địa bàn 3 tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa, với hệ thực vật phong phú gồm 1.924 loài thực vật bậc cao có mạch. Trong các trạng thái rừng thứ sinh phát triển trên núi đá vôi ở độ cao lên đến 648 m, loài Nhò vàng (Streblus macrophyllus thuộc họ Dâu tằm Moraceae) đóng vai trò sinh thái chủ chốt trong việc duy trì độ che phủ và phục hồi tầng tán rừng. Tuy nhiên, các hiểu biết về cơ chế tương tác không gian và cấu trúc quần xã thực vật của loài này trong các hệ sinh thái rừng thứ sinh bị tác động còn rất hạn chế.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là xác định đặc điểm cấu trúc lâm phần, đánh giá các chỉ số đa dạng sinh học và lượng hóa mô hình không gian của loài Nhò vàng cùng các loài cây gỗ ưu thế cộng sinh trên 3 trạng thái rừng thứ sinh bị tác động ở các mức độ khác nhau. Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 05/2016 đến tháng 11/2016 tại khu vực rừng tự nhiên thuộc Vườn quốc gia Cúc Phương.

Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp cơ sở định lượng về phân bố không gian với 2.082 cá thể cây được điều tra trên tổng diện tích 2,5 ha. Kết quả giúp các nhà quản lý lâm nghiệp đánh giá chính xác khả năng tái sinh tự nhiên, kiểm soát mật độ quần thể dao động từ 372 đến 1.006 cây/ha và tối ưu hóa giải pháp bảo tồn hệ sinh thái rừng núi đá vôi tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân hóa vi môi trường sống (Niche differences) và hiệu ứng Janzen-Connell trong sinh thái học rừng nhiệt đới. Theo lý thuyết vi môi trường sống, sự không đồng nhất về độ ẩm không khí trung bình 90% và thổ nhưỡng đất phong hóa trên đá vôi là động lực điều chỉnh phân bố không gian thực vật. Hiệu ứng Janzen-Connell và lý thuyết phụ thuộc mật độ nghịch (Negative density dependence) giải thích sự suy giảm mật độ tái sinh xung quanh cây mẹ do áp lực cạnh tranh tài nguyên và dịch hại.

Các khái niệm then chốt được vận dụng bao gồm: mô hình điểm không gian (Spatial point pattern) thể hiện tọa độ hai chiều của các cá thể; chỉ số giá trị quan trọng IV% (Important Value Index) phản ánh vị thế sinh thái thông qua tổng mật độ tương đối và tiết diện ngang tương đối; hàm tương quan theo cặp g(r) một biến số g11(r) và hai biến số g12(r); giả thuyết không gian hoàn toàn ngẫu nhiên (CSR - Complete Spatial Randomness) để đối chiếu tương tác sinh thái ở các khoảng cách từ 0 đến 50 m.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 05/2016 đến tháng 11/2016 tại Vườn quốc gia Cúc Phương. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 2.082 cá thể cây gỗ thuộc 158 loài trên tổng diện tích 2,5 ha. Phương pháp chọn mẫu là bố trí 03 ô tiêu chuẩn điển hình (OTC) đại diện cho 3 trạng thái rừng: OTC1 diện tích 1,0 ha ở nơi Nhò vàng chiếm ưu thế cao, OTC2 diện tích 1,0 ha ở nơi mật độ trung bình và OTC3 diện tích 0,5 ha ở nơi mật độ thấp.

Tất cả các cây gỗ có đường kính ngang ngực DBH từ 2,5 cm trở lên được định vị tọa độ không gian chính xác bằng thước đo laser Leica Disto D2 và la bàn địa chất, đồng thời phân chia thành 3 giai đoạn sinh trưởng: cây non (DBH dưới 5 cm), cây sào (DBH từ 5 đến 15 cm) và cây thành thục (DBH trên 15 cm). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích mô hình điểm bằng hàm g(r), hàm L(r) kết hợp 199 lần mô phỏng Monte Carlo trong phần mềm Programita với khoảng tin cậy 95% là vì phương pháp này cho phép phân lập rõ ràng giữa tương tác sinh học trực tiếp (cạnh tranh, tương hỗ) và tác động của môi trường không đồng nhất ở từng dải khoảng cách cụ thể.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cấu trúc tổ thành, loài Nhò vàng đóng vai trò then chốt trong tầng dưới tán của cả 3 trạng thái rừng. Tại OTC1, Nhò vàng đạt mật độ cao nhất với 483 cây/ha, chiếm giá trị IV% lên tới 42,77%; ở OTC2 đạt 392 cây/ha với IV% là 20,79%; tại OTC3 đạt 194 cây trên 0,5 ha với IV% đạt 40,97%. Tổng giá trị IV% của nhóm ưu thế gồm Nhò vàng và Cà lồ luôn vượt ngưỡng 45%, đạt cao nhất 61,13% ở OTC1.

Thứ hai, về tính đa dạng sinh học, OTC2 thể hiện mức độ giàu loài vượt trội với 91 loài và 1.006 cá thể, chỉ số Shannon-Weiner H' đạt 1,417, chỉ số Margalef d đạt 90,666 và Simpson D đạt 0,708. Ngược lại, OTC1 ghi nhận 40 loài (704 cá thể, H' = 0,869, d = 39,648) và OTC3 chỉ có 27 loài (372 cá thể, H' = 1,160, d = 26,610). Chỉ số đồng đều Pielou J' dao động từ 0,163 đến 0,243 chứng minh sự phân tầng và cấu trúc loài không đồng nhất giữa các trạng thái.

Thứ ba, phân tích mô hình điểm không gian chỉ ra sự chuyển dịch phân bố theo tuổi sinh trưởng. Ở giai đoạn cây non (DBH dưới 5 cm) và cây sào (5 đến 15 cm), Nhò vàng phân bố cụm mạnh mẽ do hạn chế phát tán hạt. Khi bước vào giai đoạn thành thục (DBH trên 15 cm), mô hình chuyển dịch sang phân bố đều ở cự ly 0 đến 2,5 m tại OTC1 và OTC3, phản ánh quá trình tự tỉa thưa tự nhiên do cạnh tranh không gian sinh dưỡng.

Thứ tư, về tương tác liên loài, tại OTC2 có mật độ cao, Nhò vàng thể hiện quan hệ cạnh tranh gay gắt với Nang trứng ở khoảng cách 2 đến 15 m, Đa lá lệch ở 0 đến 22 m và Cà lồ ở 25 đến 30 m. Đồng thời, ghi nhận tương tác hỗ trợ tích cực giữa Đa lá lệch và Cà lồ tại dải khoảng cách 10 đến 12 m.

Thảo luận kết quả

Hiện tượng phân bố cụm ở cây non và chuyển dần sang phân bố đều ở cây thành thục phù hợp với lý thuyết tự tỉa thưa và quy luật cạnh tranh ánh sáng trong rừng nhiệt đới. Kết quả này đồng nhất với các nghiên cứu trước đây về rừng lá rộng thường xanh, khẳng định tương tác cây-cây xảy ra chủ yếu trong bán kính dưới 30 m. Môi trường sống tổng thể được chứng minh là đồng nhất khi toàn bộ cây thành thục phân bố ngẫu nhiên ở khoảng cách lớn hơn 10 m.

Về mặt trực quan hóa học thuật, dữ liệu cấu trúc đường kính có thể được trình bày sinh động qua biểu đồ phân bố tần số số cây theo cấp kính dạng giảm một đỉnh lệch trái, trong đó cấp kính 5 đến 10 cm chiếm ưu thế tuyệt đối (180 cây ở OTC1, 307 cây ở OTC2 và 142 cây ở OTC3). Đồng thời, quan hệ tương tác không gian được minh họa trực quan qua biểu đồ đường cong hàm g(r) so với dải bao tin cậy Monte Carlo 95% và bản đồ điểm tọa độ không gian hai chiều, giúp nhận diện rõ rệt các vùng cạnh tranh hay tương hỗ sinh thái.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết lập và vận hành hệ thống ô định vị giám sát động thái rừng dài hạn: Ban quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương chủ trì, duy trì 03 ô tiêu chuẩn hiện tại (2,5 ha) và mở rộng thêm 2 ha ô định vị trong giai đoạn 2026-2028 nhằm theo dõi tốc độ tăng trưởng DBH và kiểm soát tỷ lệ tự tỉa thưa hàng năm dưới 3%.

Thứ hai, thực hiện các biện pháp lâm sinh điều chỉnh mật độ tầng tán: Chi cục Kiểm lâm và Trạm nghiên cứu lâm sinh triển khai tỉa thưa nuôi dưỡng cục bộ, khống chế khoảng cách giữa các cây Nhò vàng thành thục tối thiểu từ 2,5 đến 3,0 m, giải tỏa áp lực cạnh tranh với các loài cây gỗ quý như Cà lồ và Vàng anh trong giai đoạn 2027-2030, hướng đến nâng cao chỉ số đa dạng Shannon-Weiner H' vượt mức 1,50.

Thứ ba, bảo tồn nguồn gen và hỗ trợ tái sinh tự nhiên loài bản địa: Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế của Vườn quốc gia phối hợp các viện nghiên cứu thu hái hạt giống từ các cá thể Nhò vàng thành thục có DBH trên 25 cm, thiết lập vườn ươm nhân giống 5.000 cây giống mỗi năm từ quý 1/2027 nhằm phục hồi các vạt rừng suy thoái có mật độ dưới 300 cây/ha.

Thứ tư, tăng cường quản lý bảo vệ rừng gắn với sinh kế vùng đệm: Ủy ban nhân dân các xã vùng đệm (Cúc Phương, Thạch Lâm, Ân Nghĩa, Yên Nghiệp) phối hợp lực lượng Kiểm lâm kiểm soát 100% tình trạng khai thác gỗ củi trái phép, chuyển đổi phương thức nông lâm kết hợp cho 4.000 nhân khẩu vùng lõi và duy trì độ tàn che của rừng thứ sinh trên 0,8 trong giai đoạn 2026-2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Lâm học, Sinh thái học: Tiếp cận phương pháp phân tích mô hình điểm không gian tiên tiến bằng phần mềm Programita và 199 lần mô phỏng Monte Carlo để ứng dụng trực tiếp vào các đề tài nghiên cứu cấu trúc quần thể thực vật rừng.

Thứ hai, Ban quản lý các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên: Sử dụng cơ sở dữ liệu về 158 loài thực vật và quy luật cạnh tranh không gian ở cự ly dưới 30 m để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững trên diện tích 22.200 ha rừng núi đá vôi.

Thứ ba, kỹ sư lâm sinh và cán bộ quy hoạch lâm nghiệp: Vận dụng công thức tổ thành loài theo chỉ số IV% (đạt 20,79% đến 42,77%) và quy luật phân bố số cây theo đường kính để thiết kế các mô hình làm giàu rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên hiệu quả.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và cơ quan bảo tồn đa dạng sinh học: Tham khảo các chỉ số định lượng Shannon-Weiner (H' từ 0,869 đến 1,417) và Margalef (d lên tới 90,666) làm căn cứ xây dựng các dự án tài trợ bảo tồn loài đặc hữu và cải thiện sinh kế cho hơn 4.000 người dân vùng đệm.

Câu hỏi thường gặp

Loài cây Nhò vàng có vai trò sinh thái nổi bật nào trong rừng núi đá vôi Cúc Phương? Nhò vàng (Streblus macrophyllus) là loài cây chịu bóng tầng dưới tán, chiếm chỉ số giá trị quan trọng IV% từ 20,79% đến 42,77% trên 3 trạng thái rừng. Loài này đóng vai trò quyết định trong việc bảo vệ đất, duy trì độ ẩm không khí trung bình 90% và gia tăng độ che phủ sinh thái cho hệ sinh thái núi đá vôi.

Tại sao nghiên cứu sử dụng hàm tương quan theo cặp g(r) thay vì chỉ dùng hàm Ripley's K? Hàm tương quan theo cặp g(r) là đạo hàm của hàm Ripley's K, có ưu thế phân tích mật độ tại từng khoảng cách vòng tròn hẹp cụ thể thay vì tích lũy khoảng cách. Nhờ đó, phương pháp phát hiện chính xác ranh giới tương tác cạnh tranh của Nhò vàng tại cự ly 0 đến 2,5 m mà không bị cộng dồn sai số.

Phân bố không gian của loài Nhò vàng thay đổi như thế nào qua các giai đoạn sinh trưởng? Nhò vàng biến đổi từ phân bố cụm ở giai đoạn cây non (DBH dưới 5 cm) và cây sào (5 đến 15 cm) sang phân bố đều ở giai đoạn thành thục (DBH trên 15 cm). Sự chuyển dịch này là minh chứng rõ rệt của quá trình tự tỉa thưa tự nhiên do cạnh tranh không gian sinh dưỡng gay gắt.

Môi trường sống tại 3 ô tiêu chuẩn Vườn quốc gia Cúc Phương có đồng nhất không? Kết quả phân tích mô hình không gian của toàn bộ cây thành thục (DBH từ 15 cm trở lên) so với mô hình ngẫu nhiên CSR cho thấy cây phân bố ngẫu nhiên ở khoảng cách trên 10 m. Điều này chứng minh môi trường sinh thái vĩ mô trên 2,5 ha điều tra có tính đồng nhất cao.

Trạng thái rừng nào có tính đa dạng sinh học cao nhất trong nghiên cứu? Ô tiêu chuẩn OTC2 ghi nhận mức độ đa dạng cao nhất với 91 loài và 1.006 cây gỗ, đạt chỉ số Shannon-Weiner H' = 1,417 và Margalef d = 90,666. Trạng thái này có sự đan xen phong phú giữa các loài ưa sáng mọc nhanh như Cà lồ và các loài chịu bóng tầng tán giữa như Vàng anh.

Kết luận

Nghiên cứu đã cung cấp những luận cứ khoa học định lượng chuẩn xác về cấu trúc lâm phần và động thái không gian của loài cây Nhò vàng tại Vườn quốc gia Cúc Phương. Các kết luận cốt lõi bao gồm:

  • Xác lập vị thế sinh thái ưu thế của loài Nhò vàng với chỉ số quan trọng IV% dao động từ 20,79% đến 42,77% trên 3 trạng thái rừng thứ sinh.
  • Lượng hóa độ giàu loài đạt đỉnh tại ô tiêu chuẩn OTC2 với 91 loài cây gỗ, 1.006 cá thể và chỉ số đa dạng Shannon-Weiner đạt 1,417.
  • Khẳng định quy luật phân bố không gian chuyển đổi từ phân bố cụm ở cây non sang phân bố đều ở cây thành thục (DBH trên 15 cm) do cạnh tranh tự nhiên.
  • Phát hiện tương tác cạnh tranh liên loài diễn ra tập trung ở cự ly dưới 30 m giữa Nhò vàng với các loài Nang trứng, Đa lá lệch và Cà lồ.
  • Chứng minh tính đồng nhất của môi trường sống vĩ mô đối với tầng cây thành thục thông qua 199 lần mô phỏng Monte Carlo.

Đóng góp chính của luận văn là hoàn thiện phương pháp ứng dụng thống kê không gian điểm trong quản lý rừng tự nhiên tại Việt Nam. Trong lộ trình giai đoạn 2026-2030, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý lâm nghiệp cần tiếp tục mở rộng mô hình quan trắc dài hạn. Hãy kết nối và tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để cùng thúc đẩy các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học rừng nhiệt đới hiệu quả!