CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN SVTH: CAO TUYẾT VÂN 2 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ THÀNH DŨNG KS ĐẶNG HUỲNH GIAO 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẬT LIỆU KHUNG CƠ – KIM (MOF) Từ những vật liệu nguồn gốc tự nhiên và các vật liệu vô cơ cổ điển, cho đến ngày nay đã có rất nhiều loại vật liệu có bề mặt riêng lớn đã được tổng hợp ra với các thông số kỹ thuật khá tốt và đã được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau. Tuy nhiên theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học trên thế giới vẫn đang nghiên cứu cải tiến tính năng của vật liệu đã có cũng như tìm ra các loại vật liệu mới với tính năng vượt trội hơn hẳn các vật liệu hiện đang có. Vật liệu khung cơ – kim (MOF) là vật liệu lai mới được tổng hợp từ các muối kim loại của nguyên tố d (Fe, Cu, Zn, Co, Ni…) và các acid hữu cơ, có cấu trúc xốp trên cơ sở bộ khung hữu cơ – kim loại, là một trong những loại vật liệu mới có cấu trúc tinh thể và có bề mặt riêng lớn hơn hẳn các vật liệu truyền thống, được tìm ra bởi nhóm nghiên cứu của GS Omar M.
Yaghi ở Trường Đại học UCLA (USA) vào năm 1977 [13]. Kể từ khi vật liệu MOF đầu tiên được công bố cho đến nay sự xuất hiện của MOF ngày càng phổ biến hơn (Hình 1.1) và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà khoa học trên thế giới. Số lần xuất bản MOF trong thập niên qua [8] SVTH: CAO TUYẾT VÂN 3 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ THÀNH DŨNG KS ĐẶNG HUỲNH GIAO 1. CẤU TRÚC VẬT LIỆU MOF Cấu trúc cơ bản của MOF thuộc loại vật liệu tinh thể, cấu tạo từ những cation kim loại hay nhóm cation kim loại liên kết với các phân tử hữu cơ (còn gọi là ligand) để hình thành cấu trúc không gian ba chiều xốp và có bề mặt riêng lớn [6].
Để việc xác định cấu trúc MOF được thuận tiện hơn, tác giả Yaghi cùng cộng sự đã phát triển khái niệm đơn vị xây dựng thứ cấp (SBUs). Trong việc dự đoán và giải thích cấu trúc MOF, SBUs được coi là “khớp”, còn các cầu nối hữu cơ (hay ligand) được coi là “ thanh chống” của mạng lưới cơ bản [12]. Khi xem xét các thuộc tính hình học và hóa học của SBUs và của các ligand có thể dự đoán được cấu trúc liên kết của vật liệu MOF, và từ đó có thể thiết kế và tổng hợp một lớp vật liệu xốp mới với cấu trúc bền vững và độ xốp cao [10]. Do đó, cấu trúc ligand và SBUs có ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc MOF [10].
Một ví dụ về SBUs của MOF-5, Hình 1.2, a là một SBUs bát diện liên kết với các đơn vị benzen để tạo thành một mạng lưới nguyên khối, b [12]. Cấu trúc SBUs của MOF-5 [12] Có thể nhận biết cấu trúc MOF thông qua các góc cơ bản sau (Hình 1. Góc là góc uốn giữa các link với nhóm carboxylate (-COO) đồng phẳng. Góc là góc uốn ngoài mặt phẳng của các nhóm carboxylate với nhau.
Góc là góc xoắn của mặt phẳng nhóm carboxylate này về trục ligand so với nhóm carboxylate khác. SVTH: CAO TUYẾT VÂN 4 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ THÀNH DŨNG KS ĐẶNG HUỲNH GIAO Hình 1. Các góc kiểm soát khung kim loại – hữu cơ được tạo thành từ benzenedicarboxylic acid Xét cấu trúc của MOF khi góc = = 0° (Hình 1.4a, khi hai SBUs liên kết với nhau bằng cầu nối 1,4 benzendicarboxylate và góc = 180° sẽ tạo ra cấu trúc đồng phẳng hai chiều.4b, góc θ ≠ 180° thì các SBUs liên kết với nhau thành chuỗi với cấu trúc một chiều. Cấu trúc MOF với ditopic có 2 nhóm –COOH đồng phẳng [4] Xét cấu trúc MOF khi góc ≠ 0o (Hình 1.5a, hai nhóm – COO cong ngoài mặt phẳng một góc = 60°, = 120° tạo khối đa diện với 12 SBUs.5b hai nhóm –COO xoắn = 90°, = 180, = 0 tạo ra cấu trúc mạng lưới ba chiều.
SVTH: CAO TUYẾT VÂN 5 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ THÀNH DŨNG KS ĐẶNG HUỲNH GIAO Hình 1. Cấu trúc MOF với ditopic có 2 nhóm –COOH không đồng phẳng [4] 1. TÍNH CHẤT VẬT LIỆU MOF Khác với các vật liệu cấu trúc xốp truyền thống như zeolite hay các loại silica như SBA-15, MCM-41…, vật liệu MOF có các lỗ xốp được ngăn cách với nhau bằng những cấu trúc phân tử chứ không phải bằng những vách ngăn dày, do đó MOF có bề mặt riêng và thể tích lỗ xốp cao hơn nhiều so với các vật liệu cấu trúc xốp truyền thống đó [14, 5]. Dữ liệu về độ xốp của các vật liệu MOF có độ xốp cao và diện tích bề mặt riêng của các vật liệu xốp truyền thống được trình bày trong Bảng 1.
Dữ liệu về độ xốp của các vật liệu MOF có độ xốp cao. ABET , ALang,,Ageo là BET, Langmuir, diện tích bề mặt hình học, tương ứng. Vp là thể tích lỗ xốp. ND: không có dữ liệu [5] Thể tích rỗng ABET ALang Ageo Vp (%) (m2/g) (m2/g) (m2/g) (m3/g) MOF-5 79 3800 4400 3390 1.89 MOF-180 89 ND ND 6080 ND MOF-200 90 4530 10400 6400 3.60 SVTH: CAO TUYẾT VÂN 6 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ THÀNH DŨNG KS ĐẶNG HUỲNH GIAO Bảng 1.
Diện tích bề mặt riêng của các vật liệu xốp truyền thống [14] Vật liệu Diện tích bề mặt riêng (m2/g) Zeolite 500 Vật liệu mao quản trung bình 1000 Carbon xốp 1500 – 2000 1. CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP VẬT LIỆU MOF Dưới đây là các phương pháp phổ biến trong tổng hợp vật liệu MOF: 1. Phương pháp nhiệt dung môi (thủy nhiệt luyện) Các phản ứng được thực hiện trong nước hay trong các dung môi hữu cơ hay hỗn hợp các dung môi để tạo độ phân cực thích hợp. Khi H2O là dung môi thì gọi là phương pháp thủy nhiệt.
Phương pháp này cần có điều kiện thuận lợi là dung môi phải bão hòa để hình thành tinh thể và làm bay hơi dung môi bằng cách tăng nhiệt độ, sau đó làm lạnh hỗn hợp, tinh thể sẽ xuất hiện. Đặc điểm của phương pháp này là nhiệt độ tổng hợp từ 70 – 150°C, thời gian từ 6 giờ – 6 ngày. Dựa trên sự tổng hợp MOF-5 một loại cầu nối từ đó phát triển một lộ trình mới cho sự tổng hợp hai ligand của các khung kim loại hữu cơ (MIXMOF) [16]. MOF-5 được tổng hợp theo phương pháp cũ nhưng dùng hai loại cầu nối là H2BDC và H2ABDC, với tỉ lệ mol 14.75 mmol tương ứng tạo 5% MIXMOF và 13.5 mmol sẽ tạo 10% MIXMOF.
Có thể thay thế một phần cầu nối BDC bằng ABDC vì hai phân tử cầu nối này có cùng kích thước và đều là khung lập phương (MOF-5 = IRMOF- 1, IRMOF-3). Tổng hợp MOF-5 có hai loại cầu nối [16] SVTH: CAO TUYẾT VÂN 7 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ THÀNH DŨNG KS ĐẶNG HUỲNH GIAO 1. Phương pháp vi sóng Phương pháp này ít dùng nhưng tốc độ tổng hợp nhanh. So với phương pháp tổng hợp thủy nhiệt thông thường, phương pháp này rút ngắn thời gian nhiều lần và cải thiện hiệu suất [18].
Phương pháp siêu âm Tổng hợp MOF-199 bằng phương pháp siêu âm: Hỗn hợp Cu(CH3COO)2.H2O và H3BTC được hòa tan trong dung dịch với tỉ lệ DMF:EtOH: H2O = 3:1:2 về thể tích, phản ứng thực hiện trong siêu âm ở nhiệt độ phòng và áp suất khí quyển sau một thời gian ngắn 5 – 60 phút tạo ra MOF-199 với hiệu suất cao (62. Kích thước nano của MOF-199 theo phương pháp này nhỏ hơn so với phương pháp Solvothermal (phương pháp nhiệt dung môi). Tuy nhiên, phương pháp siêu âm rút ngắn thời gian tổng hợp từ 20 đến 50 lần so với phương pháp thông thường [20]. ỨNG DỤNG CỦA MOF Cùng với việc tổng hợp và nghiên cứu cấu trúc MOF, các nhà khoa học trên thế giới cũng rất quan tâm tới việc khám phá các ứng dụng của MOF.
MOF có nhiều ứng dụng như là tích trữ khí, hấp phụ và tách khí chọn lọc, xúc tác, từ tính,….với sự phân bố khác nhau được trình bày trong Hình 1. Tích trữ khí - 2. Hấp phụ/ tách khí chọn lọc - 3. Đặc tính khác Hình 1.
Phân bố ứng dụng của MOF [8] SVTH: CAO TUYẾT VÂN 8 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ THÀNH DŨNG KS ĐẶNG HUỲNH GIAO 1. Xúc tác Phản ứng Knoevenagel: Sơ đồ 1. Phản ứng ngưng tụ Knoevenagel với xúc tác IRMOF-3 [9] Theo như kết quả thăm dò hoạt tính xúc tác của IRMOF-3 trong phản ứng Knoevenagel (Sơ đồ 1.2) của tác giả Jorge Gascon và cộng sự, cho thấy IRMOF-3 có khả năng xúc tác tốt, cho độ chuyển hóa cao, độ chọn lọc sản phẩm cao và có khả năng thu hồi, tái sử dụng xúc tác [9]. Phản ứng Acyl hóa: Sơ đồ 1.
Phản ứng Acyl hóa với xúc tác MOF-5 [21] SVTH: CAO TUYẾT VÂN 9 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ THÀNH DŨNG KS ĐẶNG HUỲNH GIAO Kết quả nghiên cứu hoạt tính xúc tác của MOF-5 cho thấy MOF-5 có khả năng xúc tác tốt cho phản ứng acyl hóa (Sơ đồ 1.3), cho độ chuyển hóa cao, độ chọn lọc sản phẩm cao và có khả năng thu hồi, tái sử dụng xúc tác sau phản ứng [21]. Lưu trữ hydrogen Hydrogen trong những năm gần đây được xem là nguồn nhiên liệu xanh và sạch, được nghiên cứu để thay thế các nhiên liệu truyền thống. Các phương pháp thông thường để lưu trữ hydrogen thường gặp nhiều khó khăn về mặt chi phí cũng như cả về mặt an toàn lao động. Trong nhiều trường hợp chi phí để lưu trữ hydrogen thậm chí cao hơn chi phí sản xuất ra nó.
Vì vậy, tổng hợp vật liệu MOF có khả năng ứng dụng để lưu trữ hydrogen là một trong những hướng nghiên cứu về ứng dụng của MOF được nhóm nghiên cứu Yaghi cũng như các nhóm nghiên cứu khác đặc biệt quan tâm. Wong-Foy, Adam J. Yaghi đã nghiên cứu sự hấp phụ hydrogen của 7 loại MOF tại 77 oK, áp suất bão hòa từ 25 – 80 bar, hấp phụ từ 2 – 7. Kết quả cho thấy khả năng hấp phụ hydrogen cao nhất thuộc về MOF-177 với sự hấp phụ H2 là 7.
Các đường đẳng nhiệt hấp phụ H2 của các loại MOF ở 77 K [2] SVTH: CAO TUYẾT VÂN 10 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ THÀNH DŨNG KS ĐẶNG HUỲNH GIAO 1. Lưu trữ carbon dioxide Năm 2005, nhóm nghiên cứu của tác giả Omar M. Yaghi đã tiến hành nhiều nghiên cứu về khả năng hấp phụ và lưu trữ CO2 của các vật liệu MOF có cấu trúc khác nhau [1]. Kết quả cho thấy MOF-177 có thể chứa 33.