Chương 1: Tổng quan về dịch vụ cảng biển Chương 2: Thực trạng kinh doanh các dịch vụ cảng biển tại Công ty Cổ phần Cảng Chân Mây Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ cảng biển tại Công ty Cổ phần Cảng Chân Mây Phần 3: Kết luận và Kiến nghị SVTH: Hồ Thị Xuân Hiền 5 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Võ Thị Mai Hà PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ CẢNG BIỂN 1.1 Khái niệm, phân loại, chức năng, vai trò của cảng biển 1.1 Khái niệm về cảng biển Theo Khoản 1 Điều 73 Bộ luật hàng hải Việt Nam 2015 thì cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng, lắp đặt trang thiết bị cho tàu thuyền đến, rời để bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện dịch vụ khác. Cảng biển có một hoặc nhiều bến cảng. Bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng. Gắn liền với sự phát triển của ngành hàng hải, trước kia cảng biển chỉ được coi là nơi tránh gió cho tàu thuyền.
Ngày nay cảng biển không chỉ là nơi bảo vệ an toàn cho tàu thuyền mà còn là đầu mối giao thông lớn, bao gồm nhiều công trình và kiến trúc, bảo đảm cho tàu thuyến neo đậu yên ốn, nhanh chóng và thuận thực hiện công việc chuyển giao hàng hóa, hành khách từ các phương tiện giao trên đất liền sang các tàu biển hoặc ngược lại, bảo quản và gia công hàng hóa à phục vụ tất cả các nhu cầu cần thiết của tàu neo đậu trong cảng. Ngoài ra nó còn là trung tâm phân phối trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại, trung tâm dịch vụ, trung tâm dân cư của cả một vùng hấp dẫn.2 Phân loại cảng biển Theo quyết định số 70/2013/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính Phủ cảng biển được chia làm 3 loại: - Cảng biển loại I: Là cảng biển đặc biệt quan trong phục vụ chủ yếu cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc liên vùng. Đối với cảng biển loại I có vai trò là cảng cửa ngõ hoặc cảng trung chuyển quốc tế, phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước được ký hiệu là cảng biển loại IA. - Cảng biển loại II: Là cảng biến quan trọng phục vụ chủ yếu cho việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng, địa phương.
- Cảng biển loại III: Là cảng biên chuyên dùng phục vụ chủ yếu cho hoạt động của doanh nghiệp. SVTH: Hồ Thị Xuân Hiền 6 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Võ Thị Mai Hà 1.3 Chức năng của cảng biển Nhóm chức năng cơ bản: - Cung cấp phương tiện và thiết bị để thông qua hàng hoá mậu dịch đường biển. - Cung cấp luồng cho tàu bè vào cảng thuận lợi nhất. - Cung cấp đường cho ô tô, xe lửa, tàu sông và các phương tiện vận tài khác ra vào cảng.
-Thực hiện các dịch vụ ngoài xếp dỡ hàng hoá như sửa chữa, cung ứng tàu thuyền, trú ngụ khi có bão hoặc các trưòng hợp khẩn cấp khác. Nhóm chức năng phụ thuộc: - Bảo đảm an toàn cho tàu khi ra vào càng, bảo đảm an toàn choo tàu và thuyền khi di chuyên trong cảng, cùng với sự an toàn về đời sống và tài sân của tàu khi còn năm trong ranh giới của cảng. - Bảo đảm vệ sinh môi trường. Nhóm chức năng cá biệt khác: - Là đại diện cơ quan Nhà nước thực thi các tiêu chuẩn an toàn của tàu thuyền, thuỷ thủ, và kiểm soát ô nhiễm môi trường.
- Là đại diện của cơ quan đăng kiểm tàu thuyền. - Làm dịch vụ khảo sát đường thuỷ. - Thực hiện các hoạt động về kinh tế và thương mại. - Cung cấp các công trình trường học, bệnh viện, y tế, vui chơi giải trí cho nhân viên trong cảng và cả cư dân của thành phố.4 Vai trò của cảng biển - Là đầu mối giao thông, bảo đảm cho tàu bè neo đậu yên ổn, nhanh chóng và thuận tiện xếp dỡ hàng hoá và hành khách.
- Bảo quản và lưu giữ hàng hoá, gia công phân loại hàng hoá. SVTH: Hồ Thị Xuân Hiền 7 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Võ Thị Mai Hà - Thực hiện thủ tục pháp chế về quản lý nhà nước và các dịch vụ hàng hải phục vụ các tàu thuyền trong thời gian lưu trú ở cảng cũng như chuẩn bị cho các hành trình trên biển tiếp theo. - Châm ngòi cho việc xây dựng các khu công nghiệp ven biển. - Thúc đẩy sự phát triển của thành phố cảng: + Dân cư và người lao động có xu hướng đổ dồn về những nơi có nền kinh tế biển phát triển.
+ Các ngành phục vụ công cộng cũng phát triển theo đà tăng trưởng của dân số như: Nhà trường, bệnh viện, nhà hát, nơi vui chơi giải trí. + Các dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…cũng phát triển. + Xuất hiện và phát triển các dịch vụ mô giới tàu thuyền, các trung tâm đào tạo thuyền viên, các hãng bảo hiểm tàu thuyền. + Tập trung, phân phối hàng hoá xuất nhập khẩu.
- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế của cả vùng hấp dẫn. - Tạo điều kiện giao lưu, mở rộng mối quan hệ với các nước khác.2 Khái niệm, đặc điểm dịch vụ cảng biển và phát triển dịch vụ cảng biển 1.1 Khái niệm dịch vụ cảng biển, phát triển dịch vụ cảng biển 1.1 Dịch vụ cảng biển Dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) có thể cung cấp cho bên kia (người mua) và chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hay không gần liền với một sản phẩm vật chất. Theo quan điểm truyền thống, nhiệm vụ chính của cảng là xếp dỡ hàng hóa.
Hiện nay, các lĩnh vực kinh doanh của cảng được mở rộng, ngoài việc xếp dỡ hàng hóa cảng tàu, chủ hàng làm nhiều dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa như phân phối và giám sát việc vận chuyển hàng hóa đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng trở thành trung tâm logistics. Trên Thế giới và ngay cả ở Việt Nam chưa đưa ra một khái niệm chung nào về dịch vụ cảng biển. Do đặc điểm chung của loại hình dịch vụ cũng như tính đa dạng, SVTH: Hồ Thị Xuân Hiền 8 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Võ Thị Mai Hà phức tạp của các loại hình dịch vụ nói chung và dịch vụ cảng biến nói riêng, cộng với cách giải thích khác nhau giữa các quốc gia nên việc đưa ra định nghĩa chung nhất cho loại hình dịch vụ này càng khó khăn. Ta có thể hiểu, dịch vụ cảng biển là những dịch vụ liên quan đến việc phục vụ và khai thác hoạt động của cảng biển.
Dưới đây là quan niệm về dịch vụ cảng biển trên phạm vi bao quát của Tổ chức thương mại thế giới WTO, Liên minh Châu Âu EU và của Việt Nam. Theo WTO: Tại vòng đàm phán Uruguay, Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ GATS đã được đưa ra thương thảo lần đầu tiên. Hiệp định này đưa ra khái niệm về các lĩnh vực dịch vụ bằng cách liệt kê các ngành, phân ngành, nhóm, phân nhóm. Danh sách phân loại các ngành dịch vụ vận tải được WTO chính thức đưa ra vào ngày 10/7/1991.
Ở danh mục ngành số 11 – Dịch vụ vận tải, trong mục “A” là dịch vụ vận tải biển, thì ngoài vận tải hành khách và vận tải hàng hoá, các dịch vụ còn lại đều được xem là dịch vụ cảng biển. Riêng đối với mục “Af”, việc cụ thể hóa các loại hình có trong dịch vụ này do các thành viên tự soạn thảo. Như vậy, WTO không đưa ra khái niệm cụ thể về dịch vụ cảng biển mà chỉ xác định vị trí dịch vụ cảng biển nằm trong nhóm dịch vụ vận tải biển, xem nó như một phần của dịch vụ vận tải biển. 1 Dịch vụ vận tải biển theo phân loại của WTO Ngành Số phân loại trung tâm CPC a.
Vận tải hành khách 7211 b. Vận tải hàng hóa 7212 c. Cho thuê tàu có kèm thủy thủ 7213 d. Bảo dưỡng và sửa chữa tàu 8868 Ngành Số phân loại trung tâm CPC e.
Lai dắt và kéo tàu 7214 f. Các dịch vụ hỗ trợ 745 SVTH: Hồ Thị Xuân Hiền 9 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Võ Thị Mai Hà - Trợ giúp dẫn đường 7451 - Chỉ huy cho tàu trong cảng, kiểm đếm, giao 7452 nhận hàng hóa - Thả neo, bỏ neo và cập bến 7453 - Thu gom rác, hủy bỏ chất thải nặng 7454 - Xếp dỡ, khai thác kho bãi 7459 - Cung cấp lương thực, nhiên liệu, nước 7459 - Các dịch vụ hỗ trợ khác 7459 (Nguồn: WTO Secretariat) Theo EU: Trong lộ trình thực hiện GATS, EU đã gửi các bản yêu cầu tới các thành viên, chi tiết hoá các loại hình hỗ trợ cho vận tải biển kèm theo các định nghĩa như sau: - Dịch vụ xếp dỡ hàng hoá: là dịch vụ thực hiện bởi các công ty xếp dỡ, kể cả công ty điều độ kho bãi nhưng không bao gồm các dịch vụ do lực lượng công nhân bốc xếp ở bến cảng trực tiếp thực hiện khi lực lượng này được tổ chức độc lập với các công ty xếp dỡ và điều độ bãi. Dịch vụ này bao gồm việc tổ chức và giám sát quá trình: + Xếp hàng hoá vào và dỡ hàng hoá ra khỏi tàu + Xếp hàng hoá vào và dỡ hàng hoá ra khỏi sà lan + Nhận hàng hoặc gửi hàng và bảo quản hàng hoá an toàn trước khi gửi hàng hoặc sau khi dỡ hàng. - Dịch vụ lưu kho hàng hoá: là dịch vụ cho thuê kho bãi để chứa hàng tại khu vực cảng.
- Dịch vụ khai báo hải quan (hay dịch vụ môi giới hải quan): là dịch vụ trong đó một bên thay mặt một bên khác làm các thủ tục hải quan liên quan đến việc xuất, nhập khẩu hoặc vận tải hàng hoá. SVTH: Hồ Thị Xuân Hiền 10 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Võ Thị Mai Hà - Dịch vụ kinh doanh kho, bãi container: là dịch vụ lưu bãi container tại khu vực cảng hoặc nội địa nhằm mục đích đóng hàng vào và dỡ hàng ra khỏi container, sửa chữa và chuẩn bị container sẵn sàng cho việc vận chuyển.