CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC VÀ TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC CẢNG BIỂN.1 Chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp: 1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh; Chiến lược có nguồn gốc xuất phát từ lĩnh vực quân sự với ý nghĩa để chỉ ra các kế hoạch lớn và dài hạn trên cơ sở chắc chắn rằng cái gì đối phương có thể làm được, cái gì đối phương không thể làm được. Từ đó thuật ngữ chiến lược kinh doanh ra đời. Theo quan điểm truyền thống chiến lược là việc xác định các mục tiêu cơ bản, dài hạn của một tổ chức để từ đó đưa ra các chương trình hành động cụ thể cùng với việc sử dụng các nguồn lực Theo Alfred Chandler “chiến lược bao gồm những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó” [11,Tr2] Theo William J. Gluech “chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ được thực hiện” [11,Tr2] Theo Michael E.
Porter “chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ” [11,Tr2] Như vậy có thể thấy có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về chiến lược. Nhưng nhìn chung có thể hiểu: chiến lược là tập hợp các quyết định (mục tiêu, đường lối, chính sách, phương thức, phân bổ nguồn lực.) và phương châm hành động để đạt được mục tiêu dài hạn, phát huy được những điểm mạnh, khắc phục được những điểm yếu của tổ chức, giúp tổ chức đó nhận những cơ hội và vướt qua nguy cơ từ bên ngoài một cách tốt nhất. [11] Mặc dù có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm chiến lược kinh doanh, nhưng bằng cách tiếp cận nào thì chiến lược kinh doanh cũng phải đáp ứng các yếu tố cơ bản như xác định rõ mục tiêu cơ bản cần đạt trong từng thời kỳ, đảm bảo huy động tối đa và kết hợp một cách tối ưu các nguồn lực kinh doanh của DN, 7 phải phản ánh quá trình liên tục xuyên suốt từ xây dựng, thực hiện, kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh và thời gian lập cho khoảng thời gian từ 3 năm, năm 5 hay 10 năm.2 Bản chất của chiến lược kinh doanh: Bản chất của chiến lược kinh doanh cơ bản được thể hiện trên năm mặt như sau: Một là: Chiến lược KD là sự thể hiện vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải phân tích điều kiện khách quan, chủ quan tìm ra những ưu nhược điểm của doanh nghiệp mình, điểm mạnh, điểm yếu của mình.
Phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để chiến lược có hiệu quả nếu không chiến lược kinh doanh sẽ ko đúng Hai là: Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một mô thức kinh doanh của doanh nghiệp. Xây dựng chiến lược kinh doanh cho hoạt động của doanh nghiệp tức là doanh nghiệp phải tận dụng, sử dụng nguồn lực để sử lý các vấn đề của doanh nghiệp. Ba là: Chiến lược kinh doanh là sự thể hiện quan niệm giá trị của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh thể hiện sự quyết tâm, tâm huyết, tầm nhiền, ý chí của lãnh đạo doanh nghiệp.
Lãnh đạo doanh nghiệp phải hiểu rõ ưu nhược điểm của doanh nghiệp mình cũng như đánh giá, nhận định hoàn cảnh khách quan, chủ quan và thị trường. Bốn là: Chiến lược kinh doanh là sự sáng tạo trong quản lý doanh nghiệp. Sự sáng tạo trong doanh hiệp nâng tầm khả năng thích ứng, hướng đi mới cho doanh nghiệp tạo kích thích sản phẩm doanh nghiệp trên thị trường mang lại sự phát triển cho doanh nghiệp. Sáng tạo trong quản lý, dụng nhân sự, thị trường, marketing, kỹ thuật, công nghệ.qua đó phát huy tác dụng của chiến lược kinh doanh.
Năm là: Chiến lược kinh doanh là kế hoạch hành động của doanh nghiệp: Xây dựng chiến lược nhưng phải chú trọng cả thực hiện chiến lược đã xây dựng. Chiến lược xây dựng có tính khả thi để thực hiện và hành động. Biến chiến lược thành kế hoạch hành động cho Công ty theo từng năm, từng bộ phận.3 Đặc trưng của chiến lược kinh doanh: Tính toàn cục: Kế hoạch kinh doanh của một doanh nghiệp phải được xây dựng, xem xét, đánh giá tất cả các khía cạnh và các bộ phận trong doanh nghiệp, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Tính nhìn xa: Doanh nghiệp phải có chiến lược xây dựng một cách cụ thể để tồn tại và phát triển muốn vậy doanh nghiệp phải có tầm nhiền và dự báo tương lai phát triển của kinh tế trong nước và thế giới.
Dự báo đúng xu thế của kinh tế, kỹ thuật sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng tầm nhìn cho chiến lược đúng đắn. Tính cạnh tranh: Doanh nghiệp nào cũng phải đối mặt với thị trường cạnh tranh và đó là bản chất căn bản của chiến lược. Chiến lược của doanh nghiệp được xây dựng phải nghiên cứu giúp doanh nghiệp có được ưu thế trên thị trường, cạnh tranh được với đối thủ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp trên thị trường. Tính ổn định tương đối: Xây dựng chiến lược kinh doanh có tính ổn định trong thời gian nhất định.
Phải xây dựng sao cho phù hợp với các hoàn cảnh khách quan, có khả năng điều chỉnh. Chiến lược kinh doanh không thể cố định nhưng cũng không dễ dàng thay đổi liên tục.4 Ý nghĩa của chiến lược kinh doanh: Xây dựng chiến lược doanh nghiệp là định hứng đi cho doanh nghiệp mình với mục đính rõ ràng, hành động cụ thể qua đó có những phương án kinh doanh tốt cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể nhận biết được những ưu, nhược điểm, những cơ hội, những khó khăn, những thách thức trong tương lai để có những phương án giảm tiểm tác động xấu từ môi trường mang lại, giúp doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn, phù hợp thích nghi với môi trường. Có thể phân phối một cách hiệu quả các nguồn lực về thời gian trong các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp mình.
9 Xây dựng chiến lược giúp doanh nghiệp phải luôn hướng về phía trước thúc đẩy doanh nghiệp thay đổi theo chiều hướng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, phát huy nguồn lực của doanh nghiệp, phát huy sự năng động sáng tạo chống lại tư tưởng ỉ lại ngại thay đổi, làm tập thể trong trong nghiệp liên kết nhau thành tập thể mạnh có kỷ luật. Giúp doanh nghiệp chiếm lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, thúc đẩy tăng năng suất, tăng doanh thu, tăng thị phần sản phẩm, tránh được các rủi ro cho doanh nghiệp. Qua đó giúp doanh nghiệp phát triển tốt trong môi trường cạnh tranh. Như vậy, chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp luôn luôn phải vận động, thúc đẩy doanh nghiệp theo chiều hứng hoàn thiện để mang lại lợi thế cho doanh nghiệp trên thị trường qua đó giúp phát triển, phát huy nguồn lực nâng cao vị thế cạnh tranh giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu của mình.5 Phân loại các loại hình chiến lược kinh doanh: Chiến lược chung: Xây dựng chiến lược chung thường đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất của doanh nghiệp, phạm vị bao trùm nhất và có ý nghĩa quyết định đến những vấn đề tồn tại của doanh nghiệp; Chiến lược ở cấp đơn vị kinh doanh hoặc lĩnh vực kinh doanh; Chiến lược này chủ yếu là các chiến lược về cạnh tranh, cạnh tranh giá, cạnh tranh thương hiệu, cạnh tranh chất lượng, cạnh tranh khác biệt sản phẩm, cạnh tranh thị phần,.
Chiến lược bộ phận: chiến lược sản xuất, tài chính, nguồn nhân lực, marketing, nghiên cứu và phát chiển…chiến lược ở cấp đơn vị kinh doanh và chiến lược bộ phận liên kết tạo thành chiến lược hoàn chỉnh của doanh nghiệp. Do vậy, xây dựng các chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp phải căn cứ vào tình hình thị trường, các định hướng phát triển kinh tế trong và ngoài nước, chính 10 sách pháp luật của nhà nước. Phải dự báo được thị trường, phân tích, tính toán thị trường. Chiến lược kinh doanh phải được điều chỉnh theo chủ trương hay biến động lớn của thị trường.6 Một số mô hình chiến lược kinh doanh Chiến lược xâm nhập thị trường: Thuyết phục khách hàng sử dụng sản phẩm doanh nghiệp mình thường xuyên và liên lục.
Dùng chiến lược marketing để lôi kéo khách hàng, sử dụng các chính sách giá, sản phẩm khuyến mại để lôi kéo khách hàng của đối thủ. Làm cho khách hàng mới sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp mình qua đó tăng quy mô của thị trường mình. Chiến lược phát triển thị trường: Thâm nhập thị trường mới, nhà phân phối mới mở thêm của hàng, bán hàng, mạng lưới phân phối. Phát triển các kênh tiêu thụ mới, quảng cáo, markting, khách hàng mới.
Chiến lược này phát huy sẽ tạo thêm chu kỳ sống của sản phẩm doanh nghiệp mình. Chiến lược phát triển sản phẩm: Xem xét điều chỉnh, bố trí, cải tiến thêm các tính năng của sản phẩm như, mẫu mã, bao vì, chất lượng, kiểu dáng, màu sắc, thiết kế… tạo sản phẩm nổi bật trên thị trường để người tiêu dùng chú ý. Chiến lược tăng trưởng SXKD bằng đa dạng hoá hoạt động; Chiến lược này yêu cầu doanh nghiệp phải phát triển nhiều loại hàng hoá dịch vụ trên các thị trường khác nhau. Chiến lược này giúp doanh nghiệp tăng khách hàng, thị phần trên thị trường qua đó phát triển doanh nghiệp và đem lại các giá trị gia tăng cho doanh nghiệp.
Chiến lược liên doanh, liên kết; Chiến lược các doanh nghiệp phải tính đến đến liên doanh liên kết để phát triển doanh nghiệp. Liên doanh liên kết tạo mối quan hệ qua lại có hiệu quả để cùng sản xuất sản phẩm hoặc gia công, chế tạo, chuyên môn hoá theo các phần hoặc toàn bộ sản phẩm của doanh nghiệp mình đang có thế mạnh. Có thể liên doanh, liên kết một phần hoặc 11 một công đoan, một sản phẩm tuỳ theo sự chuyên môn hoá của doanh nghiệp.7 Các chiến lược kinh doanh bộ phận: Chiến lược sản phẩm dịch vụ: Thoả mãn nhu cầu, thị hiếu của khách hàng phương thức kinh doanh đảm bảo doanh nghiệp có chỗ đứng trên thị trường và phát triển tốt. Chiến lược sản phẩm dịch vụ rất quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp.
Vai trò sản phẩm dịch vụ giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển trên thị trường cạnh tranh sản phẩm. Chiến lược thị trường: Doanh nghiệp phải xác định thị trường là nơi để doanh nghiệp tồn tại và phát triển, tiêu thụ các sản phẩm của doanh nghiệp.