Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về kiểm soát hiệu quả chi NSNN Chương 3: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và giải pháp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT HIỆU QUẢ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC DÀNH CHO ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN Trong chương 2 này, tác giả tập trung đi vào lý thuyết liên quan đến NSNN bao gồm: kiểm soát NSNN, trách nhiệm và tính minh bạch, kiểm soát hiệu quả dảnh cho cơ sở giáo dục. Bên cạnh đó tác giả cùng đi tìm hiểu các nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề mà tác giả nghiên cứu, từ đó tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu cho vấn đề kiểm soát hiệu quả chi NSNN trong giáo dục tại địa phương quận Gò Vấp. Khung lý thuyết về kiểm soát chi NSNN cho các đơn vị giáo dục. Lý thuyết về Ngân sách Trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về NS, những người đề xuất hiện đại của lý thuyết ngân sách là Bozeman và Straussman (1982), lý thuyết NS có hai chiều là mô tả và quy phạm (Rubin, 2007).
Phần quy phạm quan tâm nhiều hơn đến giá trị trái ngược với quan sát. Phần mô tả thì thường tập trung vào sự tham gia của khu vực công, phần mô tả còn có thể hiểu là việc hoạch định NS trong tương lai, trong đó sẽ đưa ra những mục tiêu họat động, sau đó sẽ dự toán trước chi phí để hoàn thành mục tiêu đó. Ngân sách được Silva và Jayamaha (2012) định nghĩa là một việc tập hợp các kế hoạch và dự toán, việc kiểm soát NS cho phép một tổ chức so sánh giữa các kết quả thực tế và dự kiến liên quan đến NS. Theo Hirst (1987) cho rằng một hệ thống kiểm soát NS hiệu quả giúp các tổ chức lập kế họach và cung cấp các biện pháp về các giải quyết các rủi ro có thể xảy ra thông qua các biện pháp kiểm soát đã được đặt ra.
Sheilds và Young (1993) nêu lý thuyết NS như một lý do được sử dụng để phát hiện sự khác biệt giữa mục tiêu và hiệu suất của tổ chức. Sherma (2012) nêu thêm một phần chi tiết rằng các tiêu chuẩn quản lý trong các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 ngành tương tự hoặc liên quan với mục đích chiến lược hoặc thực hiện ngay các hành động khắc phục khi rủi ro có thể xảy ra. Uyar và Bilgin (2011) cho rằng ngân sách được sử dụng để hỗ trợ cho các dự đoán trong tương lai, kiểm soát chi phí, lợi nhuận cũng như lập kế hoạch. Các tổ chức nên có cả ngân sách vốn thường xuyên, vốn để kiểm soát và lập kế hoạch cho cả dòng tiền ngắn hạn và dài hạn.
Như vậy nhìn chung NS có ảnh hưởng đến yếu tố hành vi và quyết định của nhân viên thông qua việc cung cấp các mục tiêu và có thể đo lường rủi ro xảy ra. Quan điểm chuẩn mực của lý thuyết NS nói rằng cần có sự tham gia rộng rãi của công chúng vào NS và NS phải phản ánh được yếu tố con người (Schrik, 1973). Ngoài ra, trong phân tích của Khan và Hildreth (2002) sau khi đã kiểm tra lý thuyết NS trong khu vực lại cho thấy quan điểm Schick (1988) rằng không nhất thiết phải có một lý thuyết về NS nhưng trái lại là phải có một bộ các lý thuyết, mỗi lý thuyết phải được cụ thể và duy nhất cho ngân sách theo từng vấn đề giải quyết. Trong bối cảnh các trường học công lập, quy trình lập NS nên có sự tham gia của các bên liên quan như: phụ huynh, nhà tài chính và cơ quan kiểm soát cấp trên.
Tại Việt Nam, theo Luật NSNN năm 2015 định nghĩa :” Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” Từ những khái niệm trên có thể thấy rằng, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh, tuy nhiên nếu xét về tính chất chung của NS đó là một bảng dự toán chung về thu – chi tài chính của một quốc gia, được cơ quan có thẩm quyền của NN quyết định để thực hiện trong thời hạn nhất định, tại Việt Nam thời hạn thực hiện nằm NS là 1 năm (từ ngày 1/1/n đến 31/12/n) 2. Lý thuyết về kiểm soát ngân sách Đối với các nước đang phát triển, có một cuộc tranh luận đáng kể về cấu trúc và chức năng phù hợp; một số ý kiến cho rằng vẫn cần một chức năng tập trung với vai trò liên tục trong việc thường xuyên phải tuân thủ các nguyên tắc (Diamond 2002, Hepworth 2004). Các tiêu chuẩn chuyên nghiệp cho kiểm soát nội bộ, bao TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 gồm tính độc lập, trình độ chuyên môn, phạm vi bảo hiểm, hiệu suất của công việc kiểm soát và quản lý của bộ phận kiểm toán. Requena (2006) cho rằng kiểm soát tái chính công đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quản lý tài chính hợp lý trong các cơ quan hành chính nhà nước và do đó là mục tiêu chính của hầu hết các chính phủ.
Khái niệm kiểm soát NSNN đã được Ủy ban châu Âu phát triển nhằm cung cấp một mô hình hoạt động và có cấu trúc nhằm hỗ trợ các chính phủ quốc gia tái thiết kế môi trường kiểm soát nội bộ của họ và đặc biệt là nâng cấp các hệ thống kiểm soát khu vực công theo tiêu chuẩn quốc tế. Dunk (2009) định nghĩa kiểm soát NS là quá trình xây dựng chi tiêu, so sánh chi tiêu thực tế với kế hoạch đã xác định xem những rủi ro nào cần tránh. Do đó, kiểm soát NS là chìa khóa đảm bảo các khoản chi đáp ứng các mục tiêu tài chính đề ra và đảm bảo mọi hoạt động chi phải theo đúng quỹ đạo Việc thực hiện kiểm soát NS nhằm giảm thiểu rủi ro phát sinh thông qua các trường hợp bất ngờ nhưng trên nguyên tắc là các khoản chi phải được đặt trong giới hạn. Ưu điểm của kiểm soát NS là dễ dàng thực hiện bởi ba bộ phận như: kế toán, thống kê, quản lý, những bộ phận này tác động qua lại lẫn nhau.
Suberu (2009) cho biết thêm rằng việc quản lý ngân sách thường ngày rất cần kết hợp cả kế toán và thống kê như một nguồn thông tin hỗ trợ kiểm soát tốt NS. Carr và Joseph (2000) xác nhận rằng kiểm soát NS giúp các nhóm quản lý lập kế hoạch trong tương lai thông qua việc họach định kế hoạch ngắn hạn và các hoạt động giám sát nhẳm tuân thủ kế hoạch, tác giả cho rằng việc triển khai hiệu quả các kỹ thuật kiểm soát cho pháp nhà quản lý giúp họ thực hiện các chức năng thường xuyên chính Robinson và Last (2009) cho rằng kiểm soát NS đóng vai trò như là công cụ quan trọng phân bổ thu nhập và phân bổ chi tiêu hợp lý trong tổ chức. Hệ thống kiểm soát NS giúp đảm bảo rằng các mục tiêu phải theo đúng kế hoạch. Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Ngọc (2012) định nghĩa kiểm soát NS là hệ thống có nhiệm vụ kiểm tra các khoản thu so với mục tiêu đã đề ra trong NS.
Mục tiêu của nó là phát hiện các trường hợp chênh lệch so với mục tiêu, qua đó đề ra những biện TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 pháp điều chỉnh cần thiết sao cho các khoản chi tiêu phù hợp với mục tiêu mong muốn. Như vậy, từ những khái niệm trên, tác giá có nhận định chung về kiểm soát NS nhà nước, đây là một hệ thống các quy trình được sử dụng để đảm bảo rằng doanh thu và chi tiêu thực tế của một tổ chức tuân thủ chặt chẽ với kế hoạch tài chính của tổ chức. Lý thuyết về trách nhiệm và tính minh bạch trong kiểm soát 2. Trách nhiệm trong kiểm soát Ngân sách Trách nhiệm là việc gắn kết giữa một bên công khai thông tin và một bên tiếp nhận thông tin.
Trong lý thuyết trách nhiệm thường chia ra làm hai phần là khả năng trả lời và kết quả nhận được. Đối với khả năng trả lời là yêu cầu các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trả lời các câu hỏi liên quan đến tài chính và kết quả đạt được sau khi thực hiện họat động đó. Schlenker (1997) xem trách nhiệm giải trình là chịu trách nhiệm trước người nghe liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ đã quy định từ trước. Trách nhiệm cũng có thể xem như là một góc độ của xã hội, tổ chức kiểm toán quốc tế (2007) định nghĩa đây là nghĩa vụ của những người hoặc tổ chức được ủy thác chịu trách nhiệm về tài chính và phải có nhiệm vụ báo cáo về các khoản này.
Đối với kết quả nhận được là khả năng người tiếp nhận câu trả lời tử các cơ quan quản lý, đây là sự tương tác giữa việc cung cấp và tiếp nhận thông tin của cả hai đối tượng, Boven (2006) cho rằng đây là mối quan hệ giữa diễn viên và khán giả, diễn viên có nghĩa vụ giải thích và biện minh cho hành vi của mình trong khi khán giả có quyền đặt câu hỏi, nêu nhận xét và buộc các diễn viên phải đối mặt với kết quả nhận được từ các khán giả đó. Lewis (2003) mô tả trách nhiệm tài chính như là một nghĩa vụ đạo đức mang tính chất pháp lý, quy định cụ thể cho một cá nhân, một tổ chức hay một tập thể nhằm giải thích nguồn tài chính được xử lý như thế nào. Do đó, trách nhiệm tài chính của trường là việc gắn với vấn đề công khai. Như vậy, về tính chất chung trách nhiệm là một phần của minh bạch, đây là nghĩa vụ mang tính chất đạo đức của cơ quan quản lý cấp trên trong việc cung cấp thông tin để đáp ứng nhu cầu của người nghe.
Do đó, cần thực hiện nghiêm chế độ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 kiểm soát, nâng cao trách nhiệm của lãnh đạo để hạn chế lãng phí, tăng sự tin tưởng của người dân và Chính phủ. Tính minh bạch trong kiểm soát NSNN Tính minh bạch trong tài chính ngụ ý về “cởi mở” các ý định chính sách, xây dựng và công khai của Chính phủ (Kpits và Graig, 1998). Một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng tính minh bạch có liên quan đến việc giảm thiều rủi ro, cải thiện tín dụng và tránh tham nhũng (Alesina và Perotti, 1996; Hameed, 2005; Alt và Lassen, 2006).