phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài tập trung vào 3 phần chính: Phần 1: Cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư tài chính trong các DN bảo hiểm. Phần 2: Thực trạng về hoạt động đầu tư tài chính tại Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ Phần 3: Giải pháp phát triển toàn diện hoạt động đầu tư tài chính tại Bảo Việt Nhân thọ 3 Phần 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1.1 Hoạt động bảo hiểm Các công ty bảo hiểm hoạt động như một trung gian tài chính – là một phần của ngành dịch vụ tài chính trong nền kinh tế. Mục đích chung của các trung gian tài chính là giúp cho các cá nhân và các tổ chức kinh doanh tiết kiệm, tích lũy, vay mượn, đầu tư và quản lý tiền tệ. Trong những nền kinh tế phát triển, vai trò của các công ty BHNT càng trở nên rõ nét, từ việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ công chúng, đến việc đầu tư trở lại nên kinh tế thông qua nguồn vốn nhàn rỗi của mình.
Những khoản tiền nhàn rỗi được đầu tư trực tiếp sang các ngành, các DN, hoặc gián tiếp thông qua hệ thống ngân hàng hay đầu tư vào các loại chứng khoán. Kết quả của hoạt động đầu tư tài chính giúp các công ty BHNT đảm bảo khả năng thanh toán cho chủ sở hữu, người lao động, đối tác và khách hàng của mình.1 Hoạt động bảo hiểm nhân thọ Trong cuộc sống của con người, rủi ro là một điều không ai có thể trách khỏi, do đó, ai cũng đặt nhiệm vụ hạn chế, phòng ngừa rủi ro lên hàng đầu và BHNT được ghi nhận đã ra ra đời, phát triển và thật sự là một giải pháp để thực hiện mục tiêu hạn chế rủi ro đó. BHNT được ghi nhận manh múng xuất hiện từ thời đế quốc La Mã cổ đại. Tại đây, người ta đã lập nên các hội mai táng để lo chi phí tang ma cho các thành viên, ngoài ra, hội cũng hỗ trợ cho thân nhân người chết.
Đến sau cách mạng Ánh Sáng năm 1688, ở Châu Âu chỉ có Vương Quốc Anh công nhận tính pháp lý của BHNT. Nhờ vậy mà trong suốt 3 thập kỷ sau đó, dịch vụ BHNT phát triển mạnh mẽ ở Anh Quốc. Trong thế kỷ 19, BHNT được ghi nhận phát triển mạnh mẽ, giai đoạn này người ta đã lập ra rất nhiều hội đoàn có trách nhiệm bảo hiểm nhân mạng và sức khỏe cho hội viên. Bên cạnh đó cũng có một số hội kín chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm lệ phí thấp cho những ai là hội viên của họ.
Ngày nay, BHNT đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Dù có đề phòng tai nạn tốt đến mức nào, con người cũng không thể loại trừ hết tất cả những rủi ro ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh và nhất là cuộc sống của nhân loại. Chỉ có BHNT mới là phương tiện hữu hiệu giúp cho cuộc sống con người được ổn định, hoạt động sản xuất kinh 4 doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục khi chẳng may gặp những sự cố rủi ro, tai nạn bất ngờ,… 1.2 Đặc điểm của loại hình bảo hiểm nhân thọ 1.1 Khái niệm về bảo hiểm nhân thọ BHNT là sự cam kết giữa người bảo hiểm (công ty bảo hiểm) và người tham gia bảo hiểm (khách hàng), mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người hưởng thụ quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Nói cách khác, BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ con người.2 Các đặc trưng cơ bản của bảo hiểm nhân thọ + BHNT vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro Mỗi người mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho công ty bảo hiểm, ngược lại công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm) cộng lãi chia khi kết thúc hợp đồng.
Đồng thời, công ty bảo hiểm còn có trách nhiệm thanh toán quyền lợi bảo hiểm cho người thụ hưởng khi không may người được bảo hiểm gặp rủi ro. + BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau cho người tham gia bảo hiểm Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả rủi ro, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia, thì BHNT ngoài mục đích dự phòng rủi ro, còn đáp ứng nhiều mục đích khác nhau như lo cho con ăn học thành tài, mua nhà, mở rộng DN, đi du lịch, tài sản thừa kế, chi phí hậu sự hay những kế hoạch tài chính giúp an nhàn khi về hưu. + Thời hạn BHNT thường rất dài, quan hệ giữa các bên trong mỗi hợp đồng BHNT lại rất đa dạng và phức tạp Thời hạn của mỗi hợp đồng thường kéo dài từ 5 năm trở lên, có khi đến suốt cuộc đời của khách hàng. Mỗi hợp đồng lại có sự khác nhau về số tiền bảo hiểm, phương thức đóng phí, độ tuổi của người tham gia.
Ngay cả trong một bản hợp đồng, mối quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp, trong mỗi hợp đồng BHNT có thể có 4 người có liên quan: Người bảo hiểm, người được bảo hiểm, người tham 5 gia bảo hiểm và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm. Các đối tượng này được quy định rõ quyền lợi, trách nhiệm có liên quan trong hợp đồng. + Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp Trong hoạt động của BHNT, người bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm, như: chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng. Nhưng những chi phí đó mới chỉ là một phần để cấu tạo nên giá cả sản phẩm BHNT, một phần chủ yếu khác lại phụ thuộc vào: Độ tuổi, tuổi thọ bình quân, số tiền bảo hiểm, thời hạn tham gia; phương thức thanh toán, lãi suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát và thiểu phát của đồng tiền.do đó, quá trình xác định phí bảo hiểm của một sản phẩm là khá phức tạp.
+ BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Ở các nước có nền kinh tế phát triển, BHNT đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay. Ngược lại có một số quốc gia trên thế giới hiện nay vẫn chưa triển khai được loại hình, mặc dù người ta hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của nó. Để lý giải vấn đề này, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, cơ sở chủ yếu để dịch vụ BHNT ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế - xã hội phải phát triển. Những điều kiện về kinh tế, như: tốc độ tăng trưởng (GDP); thu nhập bình quân đầu người; mức sống của dân cư; tỷ lệ lạm phát của đồng tiền; tỷ giá hối đoái và đặc biệt là môi trường đầu tư của nền kinh tế.
Ngoài điều kiện kinh tế - xã hội, thì môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT. Thông thường ở các nước, luật kinh doanh bảo hiểm, các văn bản, quy định có tính pháp quy phải ra đời trước khi ngành bảo hiểm phát triển. Luật bảo hiểm và các văn bản có liên quan sẽ đề cập cụ thể đến các vấn đề, như: tài chính, đầu tư, hợp đồng, thuế v. Đây là những vấn đề mang tính chất sống còn cho hoạt động kinh doanh BHNT.
Chẳng hạn, ở một số nước phát triển như: Anh, Pháp, Đức. Nhà nước thường tạo điều kiện thuận lợi cho các DN BHNT bằng các chính sách thuế ưu đãi. Mục đích là nhằm tạo ra cho các cá nhân cơ hội để tiết kiệm, tự mình lập nên quỹ hưu trí, từ đó cho phép giảm bớt phần trợ cấp từ Nhà nước. Mặt khác, còn đẩy mạnh được quá trình tập trung vốn trong nền kinh tế.
Cũng vì những mục đích trên, mà một số nước châu á như: Ấn Độ, Hồng Kông, Singapore. không đánh thuế doanh thu đối với các nghiệp vụ BHNT. Sự ưu đãi này là đòn bẩy tích cực để BHNT phát triển một cách bền vững.3 Các loại hình bảo hiểm nhân thọ Tuỳ vào những mục đích và nhu cầu khác nhau, BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của từng đối tượng khách hàng. Nhưng nhìn chung, BHNT có những loại hình cơ bản: + Bảo hiểm trong trường hợp tử vong (bảo hiểm tử kỳ): là loại hình bảo hiểm được ký kết để thanh toán quyền lợi bảo hiểm trong trường hợp người được bảo hiểm tử vong trong thời hạn bảo hiểm.
+ Bảo hiểm trong trường hợp còn sống (bảo hiểm sinh kỳ): Đặc điểm chính của loại hình bảo hiểm này là người bảo hiểm sẽ cam kết thanh toán cho người được bảo hiểm một khoản tiền nhất định theo định kỳ hoặc sống đến hết thời hạn hợp đồng bảo hiểm cam kết. + BHNT hỗn hợp: Thực chất của loại hình bảo hiểm này là bảo hiểm cả trong trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong hay còn sống. Trên thực tế BHNT hỗn hợp là loại hình bảo hiểm phổ biến, chiếm phần lớn trong các loại hình BHNT triển khai trên thị trường, vì kết hợp được giữa yếu tố tiết kiệm và yếu tố bảo vệ nên tạo được sự khác biệt và có lợi thế cạnh tranh so với các loại hình tài chính, tín dụng khác. Chính đặc tính cơ bản trong hợp đồng BHNT hỗn hợp (thu phí lũy kế hàng năm) và chỉ thanh toán khi có phát sinh quyền lợi đã tạo ra một số tiền nhàn rỗi rất lớn giúp các công ty BHNT thực hiện chức năng đầu tư trở lại nền kinh tế.
Quy mô nguồn vốn đầu tư này lớn hay nhỏ phụ thuộc vào việc triển khai thành công các loại hình hỗn hợp trên thị trường.3 Tính tất yếu khách quan của BHNT đối với đời sống kinh tế - xã hội.1 Ý nghĩa của BHNT đối với cá nhân, gia đình BHNT đã khắc phục được hậu quả rủi ro khi người được bảo hiểm không may bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong, số tiền bảo hiểm được thanh toán giúp gia đình, người thân ổn định cuộc sống.