Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng thƣơng mại Chương 3: Giới thiệu khái quát về Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (BIDV)- Chi nhánh bắc Hƣng Yên Chương 4: Phân tích tình hình cho vay của Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (BIDV)- Chi nhánh bắc Hƣng Yên Chương 5: Nhận xét và kiến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Tổng quan về tín dụng ngân hàng thƣơng mại 2. Khái niệm Tín dụng Theo PGS.TS Phan Thị Thu Hà (Năm 2013),Giáo trình Ngân hàng Thương mại,Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân. “Tín dụng được hiểu là “QUAN HỆ TÍN DỤNG”, là mối quan hệ vay mượn tạm thời, bằng hàng hóa hoặc tiền tệ và phải hoàn trả cả gốc và lãi”.
“Tín dụng ngân hàng là các quan hệ tín dụng trong hoạt động NHTM, bao gồm các quan hệ vay mượn bằng tiền tệ giữa NHTM và khách hàng. Ngân hàng thương mại đi vay để cho vay, nên quan hệ tín dụng NHTM bao gồm cả hoạt động huy động vốn bằng tiền gửi, các công cụ nợ, đi vay khác và hoạt động cho vay của các NHTM”. “Tín dụng thương mại, là quan hệ mua bán chịu hàng hóa trong hoạt động thương mại và sản xuất kinh doanh”. Cấp tín dụng “Cấp tín dụng được hiểu là những nghiệp vụ cụ thể của quan hệ tín dụng, là các sản phẩm tín dụng của NHTM với khách hàng, theo các hình thức khác nhau.
Bản chất kinh tế của cấp tín dụng là những hình thức hợp đồng vay mượn hoặc cam kết cho vay của NHTM với khách hàng, dưới hình thức khác nhau, theo nguyên tắc có hoàn trả. Có rất nhiều hình thức cấp tín dụng: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng…” 2. Bản chất,chức năng của tín dụng ngân hàng Theo GS.TS Nguyễn Văn Tiến, Toàn tập Quản trị Ngân hàng Thương mại, Nhà xuất bản Lao Động. “Tín dụng NHTM là hệ hợp đồng kinh tế giữa một tổ chức có tư cách pháp nhân, được Nhà nước cấp giấy phép kinh doanh tín dụng và khách hàng của NHTM”.
“Tín dụng NHTM có tác động rất lớn đến các quan hệ kinh tế, xã hội,bởi vì NHTM có chức năng trung gian tài chính, huy động và phân bổ nguồn vốn của xã hội, nên ảnh hưởng to lớn đến kinh tế-xã hội của đất nước. Trong quan hệ tín dụng NHTM, người đi vay không có quyền sở hữu về giá trị vốn đó mà chỉ tạm thời sử dụng trong một thời gian nhất định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vốn tín dụng sau khi được sử dụng kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh phải thu hồi về hình thái tiền tệ để hoàn trả cho người vay cả gốc và lãi. Quan hệ TÍN DỤNG VÀ NGÂN SÁCH khác nhau: Quan hệ vay mượn phải hoàn trả và quan hệ cấp phát để chi tiêu, đầu tư không hoàn trả”.
Vai trò của tín dụng ngân hàng “Tín dụng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc liên tục và ổn định Trong hoạt động sản xuất kinh doanh không thể nào có sự trao đổi ngay trực tiếp giữa hàng và tiền vì thế cần vốn để có thể không làm gián đoạn quá trình sản xuất rất cần đến tín dụng của ngân hàng, làm cho quá trình sản xuất được liên tục ổn định và có thể tồn tại được”. “Tín dụng là điều kiện tạo ra bƣớc nhảy vọt phát triển kinh tế xã hội Tiền luôn có mặt ở tất cả các hoạt động kinh tế-xã hội. Trong hoạt động sản kinh doanh việc rút ngắn thời gian nhằm tăng nhanh vòng quay vốn do đó mỗi chủ thể kinh doanh phải chủ động tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp như ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ…những việc làm này đòi hỏi một lượng lớn về vốn. Và tín dụng ngân hàng là nơi có thể cạnh tranh nhau và sẽ làm cho nền kinh tế phát triển nhảy vọt”.
“Tín dụng là một công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nƣớc Nhà nước có thể điều chỉnh kinh tế giữa các vùng, các nghành, các lĩnh vực khác nhau thông qua tín dụng ngân hàng của nhà nước để có thể phát huy mọi tiềm năng của cùng ngành đó, đưa kinh tế của vùng đó phát triển mạnh lên và có điều kiện như những vùng khác”. “Tín dụng tạo điều kiện phát triển kinh tế đối ngoại Việc giữa các ngân hàng mở tài khoản ở các quốc gia khác nhau giúp cho việc quan hệ kinh doanh giữa các quốc gia được diễn ra thuận lợi hơn, tin tưởng nhau hơn để các đối tác yên tâm hợp tác làm ăn”. Các hình thức tín dụng ngân hàng Theo thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng đƣợc phân thành 3 loại sau: Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng chia thành 2 loại: Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng được cung cấp cho các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh. Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được cấp phát để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình. Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hướng tăng lên. Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay, có các loại tín dụng sau: Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh. Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp.
Loại hình này thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ. (Nguồn: Chủ biên GS.TS Nguyễn Văn Tiến, Toàn tập Quản trị Ngân hàng Thương mại, Nhà xuất bản Lao Động). Nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 2. Khái niệm Theo PGS.TS Phan Thị Thu Hà ( Năm 2013),Giáo trình Ngân hàng Thương mại,Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân: “Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu.
Giá (lãi suất) của khoản vay do ngân hàng ấn định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt khoản thời gian tồn tại của khoản vay. Chủ thể tham gia trong quan hệ Tín dụng ngân hàng là ngân hàng nhà nước, doanh nghiệp và hộ dân cư. Đối tượng được sử dụng trong quan hệ tín dụng là tiền. Do đó, nó không chịu sự giới hạn theo hàng hoá, vận động đa phương đa chiều.
Đây chính là ưu điểm nổi bật và là đặc điểm khác biệt giữa Tín dụng ngân hàng với các loại hình tín dụng khác”. Các nguyên tắc của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng được thực hiện trên 3 nguyên tắc sau: * Tiền cho vay phải đƣợc hoàn trả sau một thời gian nhất định cả vốn lẫn lãi Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu vì đại bộ phận vốn kinh doanh của ngân hàng là nguồn vốn huy động từ nền kinh tế. Nguyên tắc hoàn trả phản ánh đúng bản chất quan hệ tín dụng, tính chất của tín dụng sẽ bị phá vỡ nếu nguyên tắc này không được thực hiện đầy đủ. Nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh, các khoản tín dụng mà ngân hàng đã cung cấp không được hoàn trả đúng hạn nhất định sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh toán và thu nhập của ngân hàng.
Do đó, khách hàng khi vay vốn phải cam kết trả cả gốc và lãi trong một thời hạn nhất định, cam kết này được ghi trong hợp đồng vay nợ. * Vốn vay phải có giá trị tƣơng đƣơng làm đảm bảo Trong nền kinh tế thị trường các hoạt động kinh tế diễn ra hết sức đa dạng và phức tạp, vì thế mọi dự đoán về rủi ro của ngân hàng chỉ mang tính tương đối. Trong môi trường kinh doanh như vậy, bảo đảm tín dụng được coi là một tiêu chuẩn xét duyệt cho vay nhằm bổ sung những mặt hạn chế của nhà quản trị tín dụng cũng như phòng ngừa những diễn biến không thuận lợi của môi trường kinh doanh. Các giá trị tương đương làm bảo đảm có thể là: vật tư hàng hóa trong kho, tài sản cố định của doanh nghiệp, số dư trên tài khoản tiền gửi, hoá đơn chuẩn bị nhận hàng hoặc có thể là cam kết bảo lãnh của một cơ quan khác thậm chí có thể là chính uy tín của doanh nghiệp trên thị trường và trong mối quan hệ quá khứ với ngân hàng.
Giá trị đảm bảo là cơ sở cho khả năng trả nợ của khách hàng, cơ sở để hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng và là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất trong các điều kiện khác nhau. * Cho vay theo kế hoạch thoả thuận trƣớc (vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tín dụng đúng mục đích không những là nguyên tắc mà còn là phương châm hoạt động của tín dụng.