CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Cho vay là một trong bốn hình thức cấp tín dụng tại NHTM, cùng với bảo lãnh, chiết khấu và cho thuê tài chính. Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, trong đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
Cho vay của NHTM là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng tiền từ NHTM (người sở hữu) sang khách hàng vay (người sử dụng), sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với lượng tiền lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Hay có thể hiểu cho vay là quan hệ giữa một bên là người cho vay (NHTM) bằng cách chuyển tiền sang bên người vay (khách hàng) để sử dụng trong thời gian nhất định với cam kết của người vay là hoàn trả cả gốc lẫn lãi khi đến hạn. Theo Quyết định 1627 về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng đã được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 và Quyết định 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 do Thống đốc NHNN Việt Nam phê duyệt, cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng voà mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Phân loại hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1.
Căn cứ vào thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn: là các loại khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng. - Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng. - Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn từ 60 tháng trở lên. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng - Cho vay có tài sản đảm bảo: Là hình thức cho vay mà ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo như quyền sở hữu, giá trị, tinh thị trường, khả năng bán, khả năng tài chính của người thứ ba…) SVTH: Trần Quốc Vũ Trang 1 Khóa luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS.
Lê Thị Hoài Trinh - Cho vay không có tài sản đảm bảo: Là hình thức cho vay dựa trên uy tín của khách hàng, thường là đối với khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh… hoặc là theo chỉ thị của Chính phủ. Căn cứ vào phương thức cho vay - Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và khách hàng thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. - Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án dầu tư phục vụ đời sống.
- Cho vay hợp vốn: Một nhóm ngân hàng cùng cho vay với một dự án vay vốn của khách hàng hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một ngân hàng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các ngân hàng khác. - Cho vay trả góp: Khi vay vốn, ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. - Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sang cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Ngân hàng và khách hàng thoả thuận về thời hạn hiệu lực cảu hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân hàng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng. - Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà ngân hàng thoả thuận bằng văn bản chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng. - Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ vho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá. Khi doanh nghiệp mua hàng mà thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán được hàng.
SVTH: Trần Quốc Vũ Trang 2 Khóa luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Trinh 1. Căn cứ vào mục đích của hoạt động cho vay - Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp - Cho vay tiêu dùng cá nhân - Cho vay bất động sản - Cho vay nông nghiệp - Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu 1. Căn cứ vào hình thức tài trợ của ngân hàng - Cho vay trực tiếp: Ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho khách hàng và khách hàng cũng trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vay của ngân hàng thông qua tổ chức trung gian như tổ, đội, nhóm… hay là thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất.3 Phân loại nợ - Nợ nhóm 1 Nhóm nợ này bao gồm: + Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn. + Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi đã quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn - Nợ nhóm 1 Nợ nhóm 2 cần chú ý các khoản nợ như sau: + Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu - Nợ nhóm 3 Nhóm nợ này bao gồm các khoản nợ như sau: + Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai + Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng SVTH: Trần Quốc Vũ Trang 3 Khóa luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Trinh - Nợ nhóm 4 Nhóm nợ này bao gồm: + Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai - Nợ nhóm 5 Nhóm nợ này dựa trên các tiêu chí sau: + Nợ quá hạn trên 360 ngày + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn từ 30 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn 1.4 Quy trình cho vay tại ngân hàng Bước 1. Tiếp nhận hồ sơ và thẩm định khoản vay + Tiếp xúc khách hàng, tìm hiểu nhu cầu và đưa giải pháp, hướng dẫn khách hàng chuẩn bị hồ sơ vay vốn: + Chuyên viên khách hàng tiến hành thẩm định hồ sơ, lập tờ trình cấp tín dụng trình các cấp phê duyệt khoản vay.
Bước 2: Phê duyệt, ký hợp đồng cho vay, hạch toán cho vay + Sau khi có Phê duyệt khoản vay, chi nhánh gửi thông báo tín dụng cho khách hàng, tiến hành soạn hợp đồng cho vay giữa ACB và khách hàng. + Ký hợp đồng cho vay, hoàn thiện thủ tục thế chấp Tài sản đảm bảo, hạch toán khoản vay vào hệ thống. Bước 3: Kiểm tra, giám sát, thu hồi nợ vay + Kiểm tra, mục đích sử dụng vốn, hiệu quả phương án kinh doanh, theo dõi hoạt động kinh doanh của khách hàng. + Theo dõi kỳ hạn thanh toán nợ lãi, nợ gốc và thông báo cho khách hàng đảm SVTH: Trần Quốc Vũ Trang 4 Khóa luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS.
Lê Thị Hoài Trinh bảo thu nợ đầy đủ, đúng hạn. + Trường hợp khách hàng phát sinh nợ quá hạn, tiến hành các bước xử lý, thu hồi nợ theo quy định của ACB. + Sau khi khách hàng tất toán khoản vay, tiến hành giải chấp tài sản đảm bảo trả lại cho khách hàng.2 Tổng quan về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Cho đến nay chưa có một khái niệm chung về loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) mà tùy thuộc đặc điểm của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển kinh tế để đưa ra những quy định về DNNVV. Khi định nghĩa DNNVV, các quốc gia thường căn cứ vào quy mô về vốn của doanh nghiệp, số lao động thường xuyên, tổng doanh thu, tổng tài sản của doanh nghiệp.
Chung quy lại mỗi quốc gia sử dụng những tiêu thức hay có cách kết hợp các tiêu thức khác nhau mà đưa ra định nghĩa riêng về DNNVV. Trên thế giới, không chỉ tiêu chuẩn để phân loại các doanh nghiệp khác nhau mà ngay cả cách phân loại doanh nghiệp cũng khác nhau. Có nước phân thành bốn loại doanh nghiệp như doanh nghiệp nhỏ; doanh nghiệp vừa; doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp cực lớn. Có nước phân loại doanh nghiệp thành: doanh nghiệp cực nhỏ (thường là kinh tế hộ gia đình); doanh nghiệp nhỏ; doanh nghiệp vừa; doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp cực lớn.
Có nước (như Mỹ) chỉ DNNVV độc lập mới là DNNVV, nhưng cũng có nước tính cả DNNVV là thành viên của các công ty lớn cũng là DNNVV. Nhìn chung, hai tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến để phân loại doanh nghiệp là số lao động sử dụng và số vốn. Trong hai tiêu chuẩn ấy, khá nhiều nước coi tiêu chuẩn về số lao động sử dụng là quan trọng hơn.