CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT-KINH DOANH 1. KHÁI NIỆM VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH: 1. Định nghĩa: Ngày nay trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, tất cả doanh nghiệp đều xem mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận là quan trọng nhất. Nhằm đạt được mục tiêu này, các doanh nghiệp phải xác định chiến lược sản xuất - kinh doanh trong từng giai đoạn phát triển phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh doanh.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần phân bổ và quản trị có hiệu quả những nguồn lực và luôn kiểm tra việc sử dụng chúng sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Muốn kiểm tra được tính hiệu quả của hoạt động sản xuất - kinh doanh thì phải đánh giá được hiệu quả ở phạm vi mỗi doanh nghiệp cũng như từng bộ phận. Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Theo Samuelson và Nordhaus, “.hiệu quả sản xuất có khi xã hội không thể tăng một loại sản lượng hàng hoá mà không cắt giảm một loại hàng hoá khác.
Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến vấn đề phân bổ hiệu quả của các nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Trên giác độ đó, rõ ràng phân bổ các nguồn lực kinh tế sao cho việc sử dụng mọi nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế đạt hiệu quà cao nhất. Từ quan điểm nêu trên có thể hiểu hiệu quả sản xuất – kinh doanh là khái niệm phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu xác định. Trình độ sử dụng các nguồn lực chỉ có thể định giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét rằng mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào.
Công thức chung tính hiệu quả sản xuất kinh doanh là: 123doc 8 H= K/C Trong đó: H: hiệu quả sản xuất kinh doanh. K: kết quả đạt được C: hao phí nguồn lực để tạo ra kết quả đó. Bản chất: Để hiểu rõ bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh, cần phân biệt ranh giới giữa hiệu quả và kết quả. Kết quả phản ánh những cái thu được sau một quá trình sản xuất - kinh doanh hay một khoảng thời gian sản xuất - kinh doanh nào đó.
Kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp có thể được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật hoặc đơn vị giá trị. Kết quả cũng có thể phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất - kinh doanh hoàn toàn định tính như uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp hay chất lượng của sản phẩm… Hiệu quả phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất. Trình độ sử dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hoặc giá trị mà là một phạm trù tương đối. Cần chú ý rằng trình độ sử dụng các nguồn lực chỉ có thể được phản ánh bằng số tương đối như: tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực.
Trong thực tế, người ta xác định hiệu quả bằng chênh lệch giữa kết quả đầu ra với chi phí đầu vào. Đây là một cách hiểu chưa đầy đủ về hiệu quả. Chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số tuyệt đối, nó chỉ phản ánh mức độ đạt được về mặt nào đó nên cũng mang bản chất là kết quả của quá trình sản xuất - kinh doanh và không bao giờ phản ánh hết được trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất. Như vậy bản chất hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh về mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nó thể hiện trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc thiết bị, nguyên liệu, vốn, đất đai…) trong quá trình 123doc 9 tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp cũng như của một quốc gia. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chính là hiệu quả được xem xét ở góc độ đơn vị kinh tế cơ sở là doanh nghiệp. Hiệu quả này có thể được đánh giá ở mức độ khác nhau: Nguời chủ sở hữu doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Dưới góc độ người chủ Sở hữu thì hiệu quả sản xuất kinh doanh được biểu hiện là hiệu quả tài chính.
Mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu. Lợi ích của chủ sở hữu của mỗi doanh nghiệp thể hiện qua lợi nhuận, giá trị doanh nghiệp hay giá trị của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán… 1. Mối quan hệ giữa hiệu quả sản xuất - kinh doanh và lợi thế cạnh tranh Hiệu quả sản xuất - kinh doanh và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau. Hiệu quả sản xuất - kinh doanh ngày càng được nâng cao sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp giữ vững và phát huy những lợi thế cạnh tranh sẵn có, đồng thời có thể khai thác những lợi thế cạnh tranh khác.
Doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao khi thu nhập của người lao động được cải thiện và nâng cao. Đây chính là động lực để người lao động gắn bó và tiếp tục đóng góp công sức vào sự phát triển của doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp sẽ nộp thuế cho ngân sách nhà nước nhiều, đầy đủ và kịp thời và tạo điều kiện nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với các cơ quan quản lý. Tương tự, mối quan hệ với các ngân hàng, tổ chức tín dụng ngày càng được củng cố khi doanh nghiệp thanh toán được các khoản lãi vay và nợ vay khi tới hạn.
Lợi nhuận của doanh nghiệp lớn sẽ tạo điều kiện tăng thêm niềm tin cho cổ đông tiếp tục góp vốn đầu tư vào doanh nghiệp. Ngược lại, khi doanh nghiệp có được một số lợi thế cạnh tranh nào đó, doanh nghiệp sẽ có cơ hội giành được những lợi ích mà doanh nghiệp khác không thể có được. Lợi thế về quy mô, về việc tiếp cận được những 123doc 10 nguồn lực có chi phí thấp như lao động, vốn, đất đai… đều là những yếu tố quan trọng trong việc đạt được hiệu quả sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH: 1.
Những yếu tố đầu vào: 1. Tổng tài sản (tổng vốn kinh doanh) Tổng tài sản hay còn gọi là tổng vốn kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh một cách đầy đủ nhất về quy mô của doanh nghiệp. Pindyck và các đồng tác giả thì doanh lợi sẽ phụ thuộc vào sự tăng trưởng của quy mô doanh nghiệp (Rober S. Pindyck et al, (1994))[15] Nếu dùng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh chúng ta thấy rằng: Các doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận tăng dần theo quy mô, khi công ty tăng quy mô để chuyên môn hóa trong công việc, khiến cho sử dụng được trong xí nghiệp của mình các dây chuyền sản xuất có quy mô lớn và có những thiết bị công nghệ tinh vi sẽ có tỷ suất lợi nhuận tăng.
Trong trường hợp này các công ty lớn sẽ lợi hơn về mặt kinh tế so với các công ty nhỏ. Khả năng cũng có thể xảy ra là tỷ suất lợi nhuận không thay đổi theo quy mô. Tầm vóc hoạt động của công ty không tác động đến hiệu suất của các yếu tố sản xuất, lúc này hiệu suất biên của các yếu tố đầu vào không đổi bất kể công ty là nhỏ hay lớn. Do đó công ty có mở rộng sản xuất thì tỷ suất lợi nhuận cũng không thay đổi.
Trường hợp cuối cùng là tỷ suất lợi nhuật giảm dần theo quy mô, trường hợp này ứng với những công ty đã có hoạt động quy mô lớn. Những khó khăn trong việc quản lý, gắn liền với sự phức tạp trong việc tổ chức và điều hành một hoạt động quy mô lớn dẫn đến chỗ làm giảm hiệu suất của cả các yếu tố đầu vào làm cho vốn được huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh càng lớn thì mức 123doc 11 lợi nhuận càng lớn nhưng tỷ lệ lợi nhuận trên vốn lại giảm, tức hiệu quả sản xuất kinh doanh lại giảm. Cùng có quy mô vốn như nhau nhưng ở từng lĩnh vực sản xuất khác nhau thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của chúng cũng khác nhau. Tỷ lệ so sánh giữa kết quả sản xuất kinh doanh và tổng tài sản (tổng vốn kinh doanh) sẽ giúp đánh giá tổng quát hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, dùng làm cơ sở so sánh hiệu quả này giữa các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
Nếu chia theo loại tài sản thì có: - Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn: là những tài sản thuộc quyền sở hữu và sử dụng của doanh nghiệp; có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong thời gian một năm. Tài sản lưu động tồn tại dưới hình thái tiền (tiền mặt, tiền gởi ngân hàng, các chứng chỉ có giá trị như tiền, vàng bạc đá quý), giá trị vật tư hàng hóa, các khoản phải thu, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn. - Tài sản cố định và đầu tư dài hạn: là toàn bộ giá trị còn lại của tài sản cố định, giá trị chi phí xây dựng cơ bản dở dang, các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn và các khoản đầu tư tài chính dài hạn của doanh nghiệp. Tài sản cố định là những tư liệu lao động có thời gian sử dụng trên 1 năm và có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên.
Tài sản cố định bao gồm tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình và tài sản cố định cho thuê tài chính. Nếu chia theo nguồn vốn thì có: - Nguồn vốn chủ sở hữu: là toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, của các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần, kinh phí quản lý do các đơn vị trực thuộc nộp lên… - Nợ phải trả: là tổng các khoản nợ phát sinh mà doanh nghiệp phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ, bao gồm tiền nợ vay (vay ngắn hạn, vay dài hạn, 123doc 12 vay trong nước, vay nước ngoài), các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, các khoản phải trả cho công nhân viên (tiền lương, tiền phụ cấp…) và các khoản phải trả khác. Chỉ tiêu vốn chủ sở hữu thể hiện lượng tiền mà nhà đầu tư bỏ ra trong hoạt động sản xuất - kinh doanh để hy vọng đạt được kết quả mong muốn trong tương lai.