CHƯƠNG 1 Ngân hàng Techcombank đã đưa ra sản phẩm cho vay mua xe ô tô mới One Touch có những cải tiến so với các sản phẩm trước đây đối với chính Techcombank và các ngân hàng khác. Tuy nhiên, sản phẩm vẫn chưa được khách hàng đón nhận rộng rãi, do đó tác giả nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu: Tìm ra mô hình thang đo giá trị cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm cho vay One Touch tại Techcombank, phân tích giá trị cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm One Touch. Đề xuất giải pháp phù hợp để nâng cao giá trị cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm cho vay One Touch. Đối tượng nghiên cứu: Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm cho vay One Touch tại NHTM cổ phần Kỹ Thương Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Không gian: Ngân hàng Techcombank tại TP. HCM, Thời gian: dữ liệu thứ cấp từ 2016-2018, dữ liệu sơ cấp, tháng 2 đến tháng 3 năm 2019. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Tìm ra mô hình thang đo giá trị cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm cho vay One Touch tại Techcombank và có tính tham khảo cho các sản phẩm khác của Techcombank và các Ngân hàng khác. Đưa ra những kiến nghị đối với Techcombank nhằm giúp đỡ Ngân hàng nâng cao giá trị cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm One Touch, giữ chân được nhiều khách hàng cũ và ngày càng có nhiều khách hàng khác đón nhận sản phẩm này.
9 CHƯƠNG 2: KHÁI NIỆM VỀ GIÁ TRỊ CẢM NHẬN VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Khái niệm về giá trị cảm nhận đã nổi lên như một vấn đề kinh doanh của những năm 1990, và tiếp tục nhận được sự quan tâm nghiên cứu sâu rộng trong thế kỉ hiện tại. Viện Khoa học Marketing (2006-2008) đã đưa định nghĩa về giá trị cảm nhận vào trong danh sách các ưu tiên nghiên cứu của những năm 2006-2008. Những sự phát triển này phản ánh sự quan tâm lớn đã được tạo ra bởi hiện tượng tạo ra giá trị giữa các nhà nghiên cứu tiếp thị trong cả học viện và ngành công nghiệp (Sa´nchez và Bonillo, 2007). Các tổ chức đang ngày càng nhận ra rằng giá trị cảm nhận là yếu tố chính trong quản lý chiến lược (Mizik và Jacobson, 2003; Spiteri và Dion, 2004).
Thật vậy, Slater (1997: 166) đã quan sát thấy rằng việc tạo ra giá trị khách hàng phải là lý do cho sự tồn tại của công ty và chắc chắn cho sự thành công của nó. Như lý do trên, việc tạo ra giá trị khách hàng đã trở thành một mệnh lệnh chiến lược trong việc xây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh (Wang et al. Nó được tạo ra bởi lòng trung thành và lợi nhuận được liên kết chặt chẽ với giá trị được tạo ra cho khách hàng (Khalifa, 2004), và khái niệm về giá trị tiêu dùng đã trở thành vấn đề cơ bản cần được giải quyết trong mọi hoạt động tiếp thị (Holbrook, 1994, 1999). Các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để định nghĩa “giá trị cảm nhận” của khách hàng.
Chẳng hạn như: giá trị cảm nhận (perceived value), giá trị của khách hàng (customer value), giá trị cho khách hàng (value for the customer), giá trị cảm nhận của khách hàng (customer perceived value), giá trị khách hàng cảm nhận (perceived customer value), giá trị của người tiêu dùng (consumer value), giá trị tiêu dùng (consumption value), … Thuật ngữ thường dùng trong khá nhiều nghiên cứu là giá trị cảm nhận (perceived value) hay giá trị cảm nhận của khách hàng (customer perceived value). Tuy nhiên mỗi nghiên cứu lại định nghĩa giá trị cảm nhận một cách khác nhau. Với mục đích làm rõ các quan điểm khác nhau liên quan đến giá trị mà khách hàng cảm nhận được,và phân tích những điểm chung của các định nghĩa được đưa ra trong tài liệu, 10 tác giả rút ra hai đặc điểm quan trọng trong giá trị khách hàng. Đầu tiên, giá trị cảm nhận gắn liền với việc sử dụng các sản phẩm, sự khác biệt từ các giá trị cá nhân hoặc tổ chức.
Thứ hai, giá trị cảm nhận được nhận thức bởi khách hàng và nó có thể được xác định bởi người bán một cách không khách quan (Zeithaml, 1988; Monroe, 1990; Lovelock, 1991; Gale, 1994; Bigné et al., 2000; Teas and Agarwal, 2000). Khi nghiên cứu khái niệm giá trị cảm nhận, có thể xác định hai cách tiếp cận chính đối với khái niệm hóa và chiều hướng của giá trị cảm nhận. Cách tiếp cận đầu tiên xác định giá trị cảm nhận là một cấu trúc được cấu hình bởi hai phần, một trong những lợi ích nhận được (kinh tế, xã hội và quan hệ) và một sự hi sinh khác (giá cả, thời gian, nỗ lực, rủi ro và sự thuận tiện) của khách hàng (Dodds et al., 1991; Rapp và Collins, 1991, 1996; Grewal et al., 1998; Cronin et al., 2000; Bigne et al. Theo định nghĩa của Zeithaml (1988), giá trị cảm nhận là sự đánh giá tổng thể của người tiêu dùng về tiện ích của một sản phẩm hay dịch vụ dựa vào nhận thức của họ về những gì nhận được và những gì phải bỏ ra.
Do đó, nó được hình thành như một khái niệm mang tính chủ quan và cá nhân cao (Parasuraman et al. Ngoài ra, nó chứa một thành phần của lợi ích và những gì phải bỏ ra khác, là một nhận thức cơ bản mang tính thực dụng về kết quả. Do đó, đây là một quan điểm chung áp dụng trong lĩnh vực sản phẩm, dịch vụ và mối quan hệ. Thành phần lợi ích, hoặc những gì người tiêu dùng nhận được từ việc mua hàng, sẽ bao gồm chất lượng cảm nhận của dịch vụ và một loạt lợi ích tâm lý (Zeithaml,1988).
Chất lượng dịch vụ là một yếu tố cơ bản trong nhận thức về giá trị cảm nhận, vì đó là điều khó khăn nhất để các đối thủ cạnh tranh bắt chước (Parasuraman và Grewal,2000) và cơ sở dựa trên sự khác biệt (Berry, 1995) và lợi thế cạnh tranh (Reichained và Sasser, 1990) được duy trì. Thành phần hi sinh, những gì người tiêu dùng phải đóng góp, sẽ được hình thành bởi giá tiền tệ và phi tiền tệ, tức là tiền và các tài nguyên khác như thời gian, năng lượng, công sức, … Do đó, để khách hàng mua sản phẩm, hoặc mua lại, sản phẩm phải có giá trị, bằng cách kết hợp tăng lợi ích hoặc giảm bớt sự hi sinh cho khách hàng, thiết lập một mức giá mà cái có thể chi trả sau (Dodds et al. 11 Cách tiếp cận thứ hai dựa trên quan niệm về giá trị cảm nhận là một cấu trúc đa chiều (Woodruff, 1997; De Ruyter et al., 1997 và 1998; Sweeney và Soutar, 2001; Sanchez và cộng sự, 2006). Theo Woodruff và các cộng sự: “Giá trị cảm nhận của khách hàng là sự yêu thích, cảm nhận và đánh giá của khách hàng về các đặc tính của sản phẩm, sự thể hiện của đặc tính và những kết quả đạt được (hoặc hậu quả phát sinh) từ việc sử dụng đó tạo điều kiện thuận lợi đạt được mục tiêu và mục đích của khách hàng trong các trường hợp sử dụng”.
Khái niệm này kết hợp chặt chẽ giá trị mong muốn và giá trị nhận được và nhấn mạnh rằng giá trị xuất phát từ nhận thức, sự yêu thích và đánh giá của khách hàng. Nó cũng liên kết sản phẩm với các trường hợp sử dụng và hiệu quả đạt được qua quá trình sử dụng bởi các khách hàng. Trong trường hợp này, các tác giả như Mattson (1991) giải quyết với tính đa chiều của giá trị cảm nhận bằng cách nắm bắt các yếu tố nhận thức và tình cảm của giá trị cảm nhận (Bảng 1. Sheth et al.
Họ định nghĩa yếu tố chức năng như một tiện ích nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm và dịch vụ. Yếu tố chức năng như là một tiện ích nhận thức của các thuộc tính của sản phẩm hoặc dịch vụ. Yếu tố cảm xúc bao gồm các cảm xúc hay những trạng thái tình cảm tạo ra bởi kinh nghiệm tiêu thụ. Yếu tố xã hội là sự chấp nhận hoặc tiện ích ở cấp độ của các mối quan hệ của cá nhân với môi trường xã hội của mình.
Yếu tố tri thức là khả năng của sản phẩm hoặc dịch vụ mang đến sự bất ngờ, khơi dậy sự tò mò hoặc đáp ứng mong muốn về kiến thức. Cuối cùng, yếu tố điều kiện đề cập đến trường hợp hoặc yếu tố tình huống như bệnh tật hoặc tình huống xã hội cụ thể (Sheth et al. Trong cùng một hướng nghiên cứu như trên, De Ruyter et al. (1997) đề xuất một cách tiếp cận toàn diện về giá trị, trong đó kết hợp một phản ứng nhận thức (giá trị đồng tiền) và các thành phần tình cảm.
Theo các tác giả này, giá trị khách hàng được đo lường bằng ba yếu tố: cảm xúc (emotional), thực tế (practical) và tính hợp lý (logical). Yếu tố giá trị cảm xúc cho thấy đánh giá tình cảm của việc sử dụng dịch vụ của khách hàng, yếu tố giá trị thực tế phản ánh các khía cạnh thực tế của các dịch vụ, và cuối 12 cùng là yếu tố hợp lý tạo ra chất lượng dịch vụ và giá cả, giá trị nói trên so với tiền bỏ ra. Mỗi giai đoạn của quá trình thực hiện dịch vụ có thể được đánh giá về các yếu tố trên. Trong một nghiên cứu sau đó, Sweeney và Soutar (2001) đã không xem xét yếu tố tri thức và điều kiện được đề xuất bởi Sheth et al.
(1991a, 1991b) là quan trọng. Do đó, năm yếu tố ban đầu đã giảm xuống còn ba: giá trị chức năng, giá trị xã hội và giá trị cảm xúc. Các tác giả này đã thiết kế một thang đo lường giá trị được gọi là PERVAL. Giá trị chức năng bao gồm các yếu tố như giá cả (giá trị của tiền), chất lượng (cảm nhận chất lượng và năng suất dự kiến của sản phẩm hoặc dịch vụ), và tính linh hoạt (khả năng thích ứng và thực tiễn của sản phẩm).
Giá trị xã hội và giá trị cảm xúc được đại diện bởi các thiết lập của tài sản vô hình có ảnh hưởng đến mối quan hệ. Sanchez et al (2006) đã phát triển một thang đo giá trị cảm nhận với 24 biến quan sát, được gọi là GLOVAL. Thang đo GLOVAL cũng bao gồm ba yếu tố lớn như thang đo PERVAL và thêm vào yếu tố giá trị chức năng được phân tích cụ thể hơn. Trong thang đo GLOVAL xác định sáu yếu tố của giá trị cảm nhận.