Chương 1: Cơ sở lý luận về dau tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chê biên, chê tạo của Việt Nam. Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2021. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam đến năm 2025. Do kiến thức chuyên môn của bản thân còn hạn chế, cũng như thời gian hạn hẹp, nên chuyên đề của em không tránh khỏi những sai sót, hạn chế.
Rất mong thầy, cô đưa ra những nhận xét, đánh giá và góp ý cho chuyên dé dé em có thé hoàn thiện một cách tốt nhất. Em xin trân thành cảm ơn! 12 CHUONG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NGANH CÔNG NGHIỆP CHE BIEN, CHE TẠO 1. Tống quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.
Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một quá trình có sự di chuyên vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác theo các kênh cam kết thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một quôc gia. Hiện nay có rat nhiêu định nghĩa vê dau tư trực tiêp nước ngoai. Theo tổ chức thương mai thé giới: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ dé phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phan lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Hội nghị Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD — United Nations Conference on Trade and Development) dua ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thé nhân (nha đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh nước ngoài)”. Tổ chức Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (1997) định nghĩa: “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm dat được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.” Chính phú Mỹ định nghĩa: ngoài những nội dung tương tự khái nệm FDI của IMF và OECD, FDI còn gắn với “quyền sở hữu hoặc kiểm soát 10% hoặc hơn thé các chứng khoán kèm quyền biểu quyết của một doanh nghiệp, hoặc lợi ích tương đương trong các đơn vị kinh doanh không có tư cách pháp nhân”.
13 Theo Luật đầu tư nước ngoài Việt Nam năm 2014 (Điều 1), “Dau tw trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hay bằng bat kỳ tài sản nào để tiễn hành hoạt động dau tw.” Tuy nhiên định nghĩa chung nhất cho rằng đầu tw trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia trong đó người sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn dau tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất hiện khi một nhà đầu tư ở một nước mua tài sản có ở một nước khác với ý định quản lý nó. Quyền kiểm soát (control- tham gia vào việc đưa ra các quyết định quan trọng liên quan đến chiến lược và các chính sách phát triển của công ty) là tiêu chí cơ bản giúp phân biệt giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và đâu tư chứng khoán. Như vậy về thực chất, đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn dé xây dựng hoặc mua phần lớn hay thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài dé làm chủ sở hữu một phần hay toàn bộ cơ sở đó và trực tiếp quản lý điều hành hoặc tham gia quản lý điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn ra đầu tư.
Đồng thời họ chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của dự án. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Thứ nhất, FDI mang lại những khoản lợi nhuận cho nhà dau tư (mục đích chính của các khoản dau tw FDI). FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận: theo cách phân loại ĐTNN của nhiều tài liệu và theo qui định của luật pháp nhiều nước, FDI là đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, luật pháp của một sỐ nước (ví dụ như Việt Nam) qui định trong trường hop đặc biệt FDI có thé có sự tham gia góp vốn của Nha nước.
Dù chủ thé là tư nhân hay Nha nước, cũng cần khang định FDI có mục dich ưu tiên hàng đầu là lợi nhuận. Các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển phải đặc biệt lưu ý điều này khi tiễn hành thu hút FDI. Các nước tiếp nhận vốn FDI cần phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp ly dé hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội 14 của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đâu tư. Thứ hai, mỗi quốc gia sẽ có quy định riêng, các nhà đầu tư phải góp đây đủ số von tối thiểu dé có thể tham gia kiểm soát được doanh nghiệp tiếp nhận dau tư.
Các chủ đầu tư quốc tế phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tuỳ theo quy định của luật pháp từng nước đề giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Luật các nước thường quy định không giống nhau về vấn đề này. Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20%, Việt Nam là 30% và trong những trường hợp đặc biệt có thể giảm nhưng không dưới 20%, còn theo qui định của OECD (1996) thì ty lệ này là 10% các cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của doanh nghiệp — mức được công nhận cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia thực sự vào quản lý doanh nghiệp. Tỷ lệ góp von của các chủ dau tư quôc tê sẽ quy định quyên và nghĩa vụ của moi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này.
Thứ ba, FDI có tinh lâu dai. FDI là quá trình đầu tư nhằm thiết lập môi quan hệ kinh tế lâu dai với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý. Đây là hoạt động đầu tư có tính bền vững mang lại những lợi ích cho một doanh nghiệp trên lãnh thé của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư cũng là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Thứ tư, FDI là một hình thức dau tư quốc tế trong đó chủ dau tư của một nước dau tu toàn bộ hay phan đủ lớn vốn dau tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyên quản lý hoặc kiểm soát dự án đó của NPT nước ngoài.
Ở Việt Nam, các NBT nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư nước ngoài theo quy định khác của pháp luật có liên quan.Những khoản đầu tư này có khả năng tạo ra ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp bằng nhiều cách khác nhau như : (i) Thành lập hoặc mở rộng một DN hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ dau tu; (ii) Mua lại toàn bộ 15 doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; (iv) Cấp tín dụng dai han (> 5 năm ). Thứ nam, di kèm với FDI là ba yếu tô : hoạt động ngoại thương, chuyển giao công nghệ, di cư lao động quốc tế. Với các vùng kinh tế của các quốc gia đang phát triển, việc thu hút FDI là cần thiết và quan trọng, bởi lẽ nếu chỉ dựa vào tiềm lực của địa phương sẽ không đủ điều kiện dé phát triển về mặt chất cũng như lượng cho nền kinh tế, do đó cần phải thu hút một lượng lớn vốn dau tư từ bên ngoài vào nền kinh tế. Di kèm với nguồn vốn không chỉ biểu hiện hình thái là tiền mà bên cạnh đó khi đầu tư vào những vùng kinh tế của quốc gia khác, các nhà đầu tư nước ngoài thường mang theo công nghệ, lao động quốc tế cũng như quá trình quan lý đến nước sở tại dé thúc day quá trình đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Thứ sáu, FDI là hình thức “kéo dai” tuổi thọ của công nghệ và sản phẩm. Có rất nhiều quốc gia trên thế giới phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ như: Nhật, Mỹ, Trung Quốc. nhưng tại những quốc gia này những lợi thế so sánh khác lại phải trả một cái giá đắt đỏ hơn. Bởi vậy, các NDT ở các quốc gia phát triển thường tìm đến những vùng kinh tế của quốc gia khác đặc biệt là các nước đangphát triển để tận dụng lợi thế so sánh vùng về giá nhân công rẻ, lực lượng lao động trẻ, cần cu, giàu tài nguyên khoáng sản mà chưa được phát triển, khai thác.Đến với những miền đất này, các NDT thường mang theo những công nghệ, sản phẩm đề có thé phát triển bền vững và lâu dài trên thị trường quốc tế, giành ưu thé kiểm soát thị trường.Đề có được sự phát triển lâu bền ấy, các quốc gia phát triển thường đem theo nhiều công nghệ tiên tiến , phù hợp để phát triển sản phẩm với nhiều đặc tính ưu việt, kéo dài tuôi thọ của các sản pham cũng như công nghệ thay vì tính truyền thống kém lâu bền của nhiều sản pham thủ công.
Thứ bảy, FDI là quá trình hội nhập quốc tế.