Phân tích sử dụng thuốc giảm đau sau phẫu thuật tại BV Răng Hàm Mặt TƯ

Luận văn phân tích thực trạng sử dụng thuốc giảm đau sau phẫu thuật tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt TƯ, đánh giá hiệu quả và thực hành của nhân viên y tế.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ dược học

2023

88
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đau sau phẫu thuật Răng Hàm Mặt

Đau sau phẫu thuật Răng Hàm Mặt là một biến chứng thường gặp ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân. Đau xuất hiện do tổn thương mô, viêm, phù nề tại vùng phẫu thuật. Nguyên nhân chính bao gồm kích ứng thần kinh, giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh như prostaglandincytokine gây viêm. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đau bao gồm: tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe, mức độ căng thẳng tâm lý, kinh nghiệm phẫu thuật trước đây. Đau sau phẫu thuật không chỉ gây khó chịu mà còn tác động tiêu cực đến hô hấp, tim mạch, tiêu hóa và tâm thần. Do đó, quản lý đau hiệu quả là tiêu chí quan trọng trong chăm sóc sau phẫu thuật và phục hồi nhanh chóng.

1.1. Nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến đau

Nguyên nhân chính gây đau sau phẫu thuật Răng Hàm Mặt là tổn thương mô, viêm tại vùng mổ. Các yếu tố như tuổi tác, tình trạng toàn thân, mức độ lo âu và đặc tính của phẫu thuật (cấp độ khó, thời gian phẫu thuật) đều ảnh hưởng. Bệnh nhân trẻ thường có cảm nhận đau mạnh hơn. Tâm lý lo âu, căng thẳng trước phẫu thuật làm tăng nhạy cảm với đau.

1.2. Tác động của đau đến các hệ cơ quan

Đau không được kiểm soát gây ảnh hưởng toàn diện: tăng nhịp tim, tăng huyết áp, giảm thổi phổi, chậm tiêu hóa. Bệnh nhân có thể bị suy giảm miễn dịch, tăng nguy cơ nhiễm trùng. Tâm lý bệnh nhân bị ảnh hưởng, gây chán nản, mất ngủ. Do đó, kiểm soát đau tốt là chìa khóa phục hồi nhanh và an toàn.

II. Đánh giá và phân loại mức độ đau sau phẫu thuật

Đánh giá đau là bước quan trọng trong quản lý đau sau phẫu thuật Răng Hàm Mặt. Các thang đánh giá đau được sử dụng rộng rãi giúp định lượng mức độ đau khách quan và chủ quan. Thang điểm số (NRS) từ 0-10 cho phép bệnh nhân tự báo cáo mức đau. Thang điểm hình mặt (FRS) thích hợp cho trẻ em và bệnh nhân không thể giao tiếp. Thang đánh giá hình ảnh (VAS) sử dụng thước đo liên tục. Ngoài định lượng mức độ đau, cần đánh giá chất lượng đau (nhói, chuột rút, bỏng), vị trí đau, thời điểm xuất hiện, tác động đến hoạt động hàng ngày. Đánh giá toàn diện giúp lập kế hoạch điều trị đau phù hợp và theo dõi hiệu quả điều trị.

2.1. Các thang đánh giá đau thường dùng

Thang NRS (Numeric Rating Scale): Bệnh nhân chỉ định mức đau từ 0-10, trong đó 0 là không đau, 10 là đau dữ dội nhất. Thang VAS (Visual Analogue Scale): Đường thẳng 10cm, bệnh nhân đánh dấu vị trí tương ứng mức đau. Thang FRS (Wong-Baker Faces Rating Scale): Sử dụng các khuôn mặt biểu cảm từ cười tươi đến khóc. Các thang này đơn giản, dễ áp dụng và có độ tin cậy cao trong đánh giá đau lâm sàng.

2.2. Các yếu tố khác trong quá trình đánh giá

Ngoài mức độ đau, cần đánh giá thời gian xuất hiện đau (ngay sau phẫu thuật hay sau 1-2 ngày). Đánh giá vị trí đau giúp xác định vùng cần tập trung xử lý. Chất lượng đau (chuột rút, nhói, bỏng) hướng dẫn lựa chọn loại thuốc giảm đau. Đánh giá tác động đến ăn uống, nói chuyện, ngủ cần thiết để đánh giá hiệu quả điều trị.

III. Các phương pháp và thuốc giảm đau sau phẫu thuật

Chiến lược quản lý đau sau phẫu thuật Răng Hàm Mặt sử dụng phương pháp đa mô thức kết hợp nhiều loại thuốc và kỹ thuật. Thuốc paracetamol là lựa chọn hàng đầu, liều khuyến cáo 500-1000mg mỗi 6 giờ, không vượt quá 4000mg/ngày. NSAID như ibuprofen, naproxen có tác dụng chống viêm mạnh, giảm đau hiệu quả nhưng cần chú ý thời gian dùng. Thuốc opioid dành cho đau mức độ nặng, cần giám sát cẩn thận. Thuốc hỗ trợ như lidocaine, dexamethasone giúp giảm viêm, tê bề mặt. Kết hợp kỹ thuật không dùng thuốc như chườm lạnh, nâng cao vị trí đầu, vật lý trị liệu tăng hiệu quả điều trị đau toàn diện.

3.1. Thuốc giảm đau opioid và không opioid

Paracetamol là thuốc an toàn, liều chuẩn 500-1000mg/lần, tần suất 4-6 giờ/lần. Ibuprofen 200-400mg mỗi 4-6 giờ, giảm viêm hiệu quả. Morphine dùng cho đau nặng, liều điều chỉnh theo thể trạng bệnh nhân. Tramadol 50-100mg mỗi 4-6 giờ, có tác dụng monoamine reuptake inhibitor. Codein kết hợp paracetamol tăng hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật.

3.2. Thuốc hỗ trợ giảm đau và kỹ thuật không dùng thuốc

Dexamethasone 4-8mg/lần giảm viêm, phù nề hiệu quả. Lidocaine dạng xịt bề mặt tê chân răng, giảm kích ứng. Gabapentin 300-900mg/ngày hỗ trợ giảm đau thần kinh. Kỹ thuật chườm lạnh 15-20 phút trong 24 giờ đầu, nâng cao vị trí đầu 45 độ, giảm hoạt động nhai cơ học giảm đau. Xả hơi miệng nhẹ nhàng, ăn mềm, tránh vùng phẫu thuật.

IV. Thực trạng và kiến thức nhân viên y tế về giảm đau phẫu thuật

Thực trạng sử dụng thuốc giảm đau tại các bệnh viện Răng Hàm Mặt cho thấy nhiều hạn chế. Kiến thức nhân viên y tế về quản lý đau sau phẫu thuật còn chưa đầy đủ, dẫn đến điều trị không hợp lý. Một số bệnh viện vẫn áp dụng kế hoạch điều trị cố định, không cá nhân hóa theo mức độ đau bệnh nhân. Thái độ của nhân viên y tế đôi khi xem nhẹ tầm quan trọng của kiểm soát đau, cho rằng đau là bình thường sau phẫu thuật. Thực hành lâm sàng thiếu sự đánh giá đau định kỳ, theo dõi hiệu quả thuốc không đầy đủ. Cần tăng cường đào tạo kiến thức mới, nâng cao nhận thức về quy trình giảm đau hiệu quả cho toàn bộ nhân viên y tế.

4.1. Kiến thức nhân viên về giảm đau sau phẫu thuật

Khảo sát cho thấy kiến thức về liều dùng thuốc giảm đau còn thiếu chuẩn xác. Nhiều nhân viên không nắm rõ tác dụng phụ của từng loại thuốc, chỉ định sử dụng. Hiểu biết về thang đánh giá đau chưa phổ biến, đặc biệt với các nhân viên lâu năm. Khoảng 60-70% nhân viên không biết chiến lược quản lý đau đa mô thức. Nhu cầu đào tạo liên tục về kiến thức giảm đau rất cấp thiết.

4.2. Thái độ và thực hành lâm sàng về điều trị đau

Thái độ tích cực về tầm quan trọng kiểm soát đau chỉ chiếm 50-60% nhân viên. Một số người cho rằng đau nhẹ là bình thường, không cần can thiệp. Thực hành lâm sàng cho thấy thiếu đánh giá đau định kỳ, theo dõi hiệu quả thuốc. Thời gian cung cấp thuốc giảm đau chưa tối ưu, thường chờ bệnh nhân yêu cầu. Cần cải thiện quy trình đánh giá, ghi chép và giám sát đau sau phẫu thuật một cách hệ thống.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Đau sau phẫu thuật luôn là ám ảnh của bệnh nhân và bác sĩ khi tiến hành các thủ thuật, phẫu thuật và là mối quan tâm hàng đầu của các bác sĩ gây mê hồi sức cũng như các bác sĩ ngoại khoa. Đau gây ra những cảm giác khó chịu, gây lo lắng sợ hãi cho bệnh nhân và gia đình, ảnh hưởng đến sinh hoạt, tâm lý, đời sống xã hội cũng như quá trình hồi phục của bệnh nhân. Mặt khác, đau còn gây ra hàng loạt các rối loạn tại hệ thống cơ quan khác nhau như tuần hoàn, hô hấp, tiêu hoá, tiết niệu, miễn dịch. từ đó làm chậm quá trình hồi phục sau phẫu thuật.

Ở giai đoạn sớm sau mổ, đau có thể dẫn đến các biến chứng như: tăng huyết áp, loạn nhịp tim, thiếu máu cơ tim, xẹp phổi, suy hô hấp, giảm vận động. từ đó góp phần làm tăng tỷ lệ các biến chứng, thậm trí là tử vong sau phẫu thuật [1-3]. Đau sau phẫu thuật nếu không được kiểm soát tốt sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của bệnh nhân như làm chậm hồi phục chức năng sau khi mổ và tăng nguy cơ trở thành đau mạn tính dù đã lành vết mổ [4]. Tuy nhiên, trên thế giới kiểm soát đau sau mổ còn là một vấn đề lớn với nhiều thách thức.

Trong các thập niên gần đây, hiểu biết về đau cũng như sự phát triển về mặt dược lý và các kỹ thuật giảm đau tiên tiến đã đạt được những bước tiến lớn như giảm đau do bệnh nhân kiểm soát (PCA), giảm đau đa mô thức,… nhưng kiểm soát đau trên thực tế dường như không đạt được hiệu quả như mong muốn [5, 6]. Ước tính có trên 80% bệnh nhân sau quá trình phẫu thuật trải qua cơn đau cấp và 75% những cơn đau này ở mức độ trung bình đến nặng. Các chứng cứ chỉ ra rằng dưới 50% bệnh nhân được điều trị giảm đau một cách thỏa đáng [3, 7]. Nhân viên y tế đóng một vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức độ đau và điều trị đau sau phẫu thuật.

Kiến thức, thái độ của nhân viên y tế là nền tảng cho thực hành điều trị đau sau phẫu thuật. Mặc dù đã có những hướng dẫn và phác đồ mới trong điều trị đau sau phẫu thuật nhưng việc thực hành đau sau 1 phẫu thuật vẫn chưa đầy đủ [8, 9]. Khảo sát nhân viên y tế tại một bệnh viện cho kết quả 58,4% có kiến thức tốt; 44,9% có thái độ tích cực nhưng chỉ có 24,6% có thực hành tốt trong điều trị đau sau phẫu thuật [8]. Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa răng hàm mặt, bệnh nhân đến điều trị nội trú tại bệnh viện phần lớn trải qua ít nhất một cuộc phẫu thuật.

Trong lĩnh vực phẫu thuật vùng hàm mặt, có nhiều phẫu thuật lớn như chỉnh hình xương hàm mặt, cắt các khối u lớn, thay thế khớp thái dương hàm, phẫu thuật vi phẫu nối mạch, ghép xương,… gây đau nhiều trong và sau mổ. Chính vì vậy, giảm đau sau mổ luôn là vấn đề được bệnh viện chú trọng trong chăm sóc hậu phẫu. Trên thực tế, không phải bệnh nhân nào cũng được kiểm soát tốt cơn đau sau phẫu thuật. Do đó, để có được cái nhìn tổng quan về việc sử dụng thuốc giảm đau sau phẫu thuật tại bệnh viện từ đó có thể đưa ra các kiến nghị để điều trị đau sau phẫu thuật hiệu quả hơn, chúng tôi tiến hành đề tài “Phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau ở bệnh nhân sau phẫu thuật tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội” với hai mục tiêu: 1.

Phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau trên bệnh nhân phẫu thuật tại các khoa nội trú bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội. Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành của nhân viên y tế về điều trị đau sau phẫu thuật tại các khoa nội trú bệnh viện. Tổng quan về đau sau phẫu thuật Đau sau phẫu thuật là loại đau xuất hiện sau khi tác dụng giảm đau của thuốc tê, thuốc mê hết hiệu lực. Đau sau phẫu thuật được coi là một dạng đau cấp tính có liên quan đến tổn thương trực tiếp đầu dây thần kinh và phản ứng viêm do mô bị tổn thương.

Nếu không điều trị tốt, đau sau phẫu thuật sẽ gây ra những biến chứng nặng như: choáng, tăng huyết áp, nhịp tim nhanh, nguy cơ huyết khối tắc mạch, mất ngủ. Vì vậy, việc sử dụng thuốc giảm đau là hết sức cần thiết [10-12]. Đau sau phẫu thuật có thể được chia thành đau cấp tính và mạn tính [10]. Đau cấp tính là đau ngay sau phẫu thuật cho đến ngày thứ 7 sau mổ.

Đau mạn tính là đau kéo dài hơn 3 tháng sau phẫu thuật. Nguyên nhân gây đau sau phẫu thuật Các nguyên nhân gây đau sau phẫu thuật có thể do: cắt da và tổ chức dưới da, cắt mô sâu, chấn thương, hiện tượng đông máu; đau tại vị trí phẫu thuật do chèn ép, co kéo dây thần kinh; đau do quá trình tiêm truyền gây tổn thương tổ chức, kích thích tĩnh mạch, chệch ven, tụ máu; do đặt dẫn lưu, xông dạ dày, xông tiểu; do đặt nội khí quản, quá trình thở sâu; do bệnh nhân cử động, di chuyển, hay thực hiện các liệu pháp vật lý hồi phục; đau do có các biến chứng phẫu thuật như xoắn và tắc mạch. Các nguyên nhân khác như: nôn, bí tiểu, băng quá chặt,. Những yếu tố ảnh hưởng đến đau sau phẫu thuật Có hai yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng đau sau phẫu thuật bao gồm yếu tố thuộc về bệnh nhân và yếu tố thuộc về phẫu thuật.

Trong đó, yếu tố thuộc về bệnh nhân bao gồm: tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, tâm lý sợ đau, lo lắng, tiền sử đau trước đó, các bệnh mắc kèm, tiền sử lạm dụng thuốc. Yếu tố thuộc về phẫu thuật gồm: vị trí và tính chất của phẫu thuật, phương pháp phẫu thuật, thời gian phẫu thuật và phương pháp vô cảm [13, 14]. 3 Vị trí phẫu thuật có thể ảnh hưởng đến mức độ và thời gian đau sau phẫu thuật. Đau dữ dội kéo dài hơn 48 giờ là do các thủ tục phẫu thuật mở rộng ở vùng thượng vị, phẫu thuật lồng ngực, phẫu thuật thận, trĩ, trực tràng, phẫu thuật các khớp và xương chính (ngoại trừ hông), phẫu thuật cột sống.

Đau dữ dội kéo dài dưới 48 giờ là do: cắt túi mật, cắt bỏ tuyến tiền liệt, cắt tử cung, mổ lấy thai. Đau vừa phải kéo dài hơn 48 giờ là do: phẫu thuật tim, phẫu thuật hông, phẫu thuật thanh quản và hầu họng. Đau vừa phải trong thời gian ngắn hơn là do: cắt ruột thừa, sửa chữa thoát vị bẹn, cắt tử cung âm đạo, cắt bỏ vú, phẫu thuật đĩa đệm giữa. Đau nhẹ thường gây ra bởi các thủ thuật ngoại khoa nhỏ [13].

Ảnh hưởng của đau sau phẫu thuật tới các hệ cơ quan Đau sau phẫu thuật bên cạnh lợi ích duy nhất được coi là tích cực vì cung cấp một cảnh báo có tổn thương mô, làm bệnh nhân và phần chi phẫu thuật bị đau gây phản ứng bất động để hồi phục nhanh hơn thì hầu như gây nhiều ảnh hưởng bất lợi cho bệnh nhân. Về tâm lý: Gây lo lắng, sợ hãi và ám ảnh cho bệnh nhân. Đau có thể làm thay đổi tâm lý và tính tình, khiến cho bệnh nhân trở nên giận dữ và có biểu hiện chống lại thầy thuốc, không hợp tác điều trị. Bệnh nhân càng đau thì càng lo lắng nhiều và từ lo lắng nhiều thì cảm nhận đau lại càng tăng lên, thường gây mất ngủ, khó điều trị phục hồi.

Về sinh lý: Những đáp ứng về sinh lý của stress và chấn thương bao gồm rối loạn chức năng hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, tiết niệu, mất cân đối trong chuyển hóa và chức năng cơ. Phần lớn những thay đổi này có thể được loại bỏ bằng các kỹ thuật giảm đau và thuốc giảm đau. Về hô hấp: Dễ xẹp phổi, viêm phổi do ứ đọng. Về tim mạch: Đau kích thích thần kinh giao cảm dẫn đến tăng nhịp tim, tăng tiêu thụ oxy cơ tim.

Hậu quả làm tăng nguy cơ thiếu máu cơ tim, nhồi máu 4 cơ tim, tăng nguy cơ thuyên tắc tĩnh mạch sâu do tăng ứ động tĩnh mạch, tăng kết dính tiểu cầu. Về tiêu hóa và tiết niệu: Ảnh hưởng của luồng cảm nhận đau nội tạng hay đau bản thể gây liệt ruột, buồn nôn và nôn ói sau phẫu thuật. Đau gây giảm trương lực cơ bàng quang và niệu đạo gây khó tiểu. Về nội tiết và chuyển hóa: Đau làm tăng trương lực giao cảm, kích thích vùng đồi thị, tăng tiết hormon và dị hóa (cortisol, ACTH, ADH, GH.), giảm bài tiết hormon đồng hóa (insulin, testosteron.

Hậu quả gây ứ muối, ứ nước, tăng đường huyết, tăng acid béo tự do, thể ceton và lactat [15]. Tổng quan về đánh giá đau sau phẫu thuật 1. Định lượng mức độ đau thông qua thang đánh giá đau Các thang điểm thường được sử dụng trong đánh giá mức độ đau [16]: thang điểm đau trả lời bằng số (Numerical rating scale, NRS), thang điểm mức độ đau dạng nhìn (Visual analogue scale, VAS), thang điểm mức độ đau bằng lời nói (Verbal rating scale, VRS), thang điểm mức độ đau theo vẻ mặt của Wong baker (Faces pain assessment scale, FRS). Thang NRS, VAS, và VRS được sử dụng phổ biến nhất trên lâm sàng và nghiên cứu.

Bệnh nhân thích sử dụng thang VRS do tính đơn giản, tuy nhiên thang này thiếu độ nhạy và dữ liệu mà tạo ra dễ bị hiểu nhầm. Thang điểm mức độ đau theo vẻ mặt của Wong-baker (FRS) thì chỉ phù hợp với đánh giá đau cho trẻ em [17]. Do đó, hai thang VAS và NRS sẽ được phân tích chi tiết hơn trong phần tiếp theo của tổng quan. Thang điểm mức độ đau dạng nhìn (VAS) VAS là một thước đo dài 100 mm có chữ cả hai đầu và không có dấu.

Bệnh nhân được đề nghị đánh dấu vào thước để chỉ cảm giác đau. VAS thường được sử dụng với mức độ đau điểm trong nghiên cứu, phía trên trái là “không đau”, bên phải là đau không thể tưởng tượng được [18]. 5 VAS cho phép lựa chọn đơn giản và nhanh chóng, đồng thời tránh những thuật ngữ miêu tả không chính xác. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi nhiều sự tập trung và phối hợp, không phù hợp đối với trẻ em dưới 5 tuổi [18].

Thang điểm mức độ đau dạng nhìn [18] Ưu điểm: Nhanh chóng, dễ dàng sử dụng, có thể dịch sang ngôn ngữ khác, được xem là một trong những công cụ tốt nhất cho phân tích sự thay đổi về mức độ đau [18].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ