fĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN KHOA HÓA HỌC BỘ MÔN HÓA PHÂN TÍCH CÙ THÀNH LONG CƠ SỞ LÝ THUYẾT HÓA PHÂN TÍCH PHẦN II: CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG TP. Hồ Chí Minh, 9/2022. KHÁI QUÁT VỀ PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG. Phân biệt “hóa học phân tích” và “phân tích hóa học”.
Phân tích hóa học là một phép đo lường. Phân biệt “hợp phần đa lượng” và “hợp phần vi lượng”. “Thành phần hóa học” hiểu theo nghĩa hiện nay. Nhu cầu phân tích hóa học.
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ THỐNG KÊ CÁC KẾT QUẢ CỦA PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG. Quy tắc chữ số có nghĩa và sai số đo lường. Sai số ngẫu nhiên (random error) ước lượng khoảng không tin cậy dựa theo định luật student. Phân biệt “sai số ngẫu nhiên” và “sai số hệ thống”.
Cách hiệu chuẩn số đo khối lượng và số đo thể tích. Quan hệ độ chính xác, độ đúng và độ nhạy. Các chuẩn thông kê. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THỂ TÍCH.
Nguyên tắc – các định nghĩa cơ bản. Các yêu cầu cho một phản ứng chuẩn độ. Dung dịch chuẩn. Cách tính kết quả trong phân tích thể tích.
Phân loại các phương pháp phân tích thể tích. PHƯƠNG PHÁP CHUẨN ĐỘ ACID – BASE. Toát yếu lí thuyết về phản ứng acid- base. Chất chỉ thị pH.
Nguyên tắc chuẩn độ acid – base. Chuẩn độ đơn acid và đa acid. Chuẩn độ đơn base và đa base. Ứng dụng thực tế của chuẩn độ acid – base:.
PHƯƠNG PHÁP CHUẨN ĐỘ COMPLEXON. Đại cương về complexon và sự tạo phức với ion kim loại. Nguyên tắc chuẩn độ complexon:. Đường chuẩn độ và các điều kiện:.
Chất chỉ thị màu kim loại và sai số chỉ thị:. Dung dịch đệm pH trong chuẩn độ complexon. Vấn đề nâng cao tính chọn lọc trong chuẩn độ complexon. Ứng dụng thực tế của chuẩn độ complexon.
PHẢN ỨNG KẾT TỦA TRONG PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KHỐI LƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CHUẨN ĐỘ KẾT TỦA. Toát yếu lý thuyết vể phản ứng kết tủa. Phương pháp phân tích khối lượng.
Phương pháp chuẩn độ kết tủa. PHƯƠNG PHÁP CHUẨN ĐỘ OXY HÓA KHỬ. Cặp oxi hoá khử liên hợp và thế tiêu chuẩn điều kiện. Nguyên tắc chuẩn độ oxy hoá-khử.
Điều kiện chuẩn độ định lượng và đường cong chuẩn độ. Chất chỉ thị thế điện cực và sai số chỉ thị. Vận tốc phản ứng oxy hoá khử. Khoảng thế điện cực khống chế bởi dung dịch nước.
Các kiểu cơ chế phản ứng Ox-Red. Các phương pháp khử bước đầu và oxy hóa bước đầu. Phương pháp permanganate. Phương pháp dichromate.
Phương pháp iod – thiosulfate. Phương pháp ferrocyanide. PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ HÒA TAN MẪU. Tuyển chọn mẫu đại diện.
Phân tích định tính. Chọn phương pháp phân tích định lượng. Xử lý mẫu để định lượng. HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP.
KHÁI QUÁT VỀ PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG 1. Phân biệt “hóa học phân tích” và “phân tích hóa học” Để xác định các thành phần hóa học hiện diện trong một chất nào đó trước hết cần tuyển chọn ra một mẫu thử đại diện cho chất ấy, sau đó tiến hành một dịch vụ thử nghiệm gọi là phân tích hóa học trên mẫu thử này. Việc phân tích hóa học gồm hai công đoạn kế tiếp nhau: phân tích định tính và phân tích định lượng. Phân tích định tính cho biết tính danh của các hợp phần có thể phát hiện được trong mẫu thử.
Phân tích định lượng cho biết mối quan hệ về lượng của từng thành phần hiện diện trong mẫu thử. Về nguyên tắc tổng các thành phần phải là 100%. Việc phân tích hóa học dù là định tính hay định lượng nhất thiết phải tuân theo một quy trình phân tích (analytical procedure), thích hợp cho từng thành phần, từng vùng mức hàm lượng của thành phần và từng loại mẫu thử. Cho nên tồn tại vô số quy trình phân tích.
Tuy nhiên, để xây dụng nên một quy trình phân tích bất kỳ người ta chỉ dựa vào một số ít các nguyên lý tổng quát, gọi là các phương pháp phân tích. Chúng lập thành một hệ thống và trở thành đối tượng nghiên cứu của một bộ môn khoa học riêng biệt, gọi là hóa học phân tích. Như vậy hóa học phân tích (analytical chemistry) chính là cơ sở lý thuyết của phân tích hóa học (chemical analysis). Hóa học phân tích, theo định nghĩa là một bộ môn khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu các phương pháp phân tích, các phương tiện phân tích và các quy trình phân tích để xác định thành phần hóa học của các chất.
Phân tích hóa học, theo định nghĩa là một dịch vụ thử nghiệm, tiến hành theo một quy trình thích hợp cho từng loại thành phần, từng loại mẫu thử, để cung cấp những thông tin cụ thể về thành phần hóa học của mẫu thử ấy. Trong các định nghĩa trên, cần làm rõ các khái niệm sau: - Khái niệm phương pháp phân tích ngụ ý nói về một nguyên lý tổng quát nào đó của hóa học phân tích. Chúng có số lượng rất hữu hạn, 4 hiện nay có khoảng hai chục phương pháp. Từ đó quy ước chia thành hai nhóm lớn: nhóm phương pháp hóa học (chemical methods) như phương pháp phân tích khối lượng, phương pháp phân tích thể tích,… và nhóm phương pháp dụng cụ (instrumental methods) như phương pháp phân tích điện hóa, phương pháp phân tích sắc ký, phương pháp phân tích trắc quang,… Xuất phát từ nguyên lý của một số phương pháp phân tích người ta sáng chế ra những kỹ thuật phân tích khác nhau.
Từ một hay nhiều kỹ thuật phân tích người ta thiết kế và thử nghiệm những quy trình phân tích khác nhau. - Khái niệm phương tiện phân tích cần được mở rộng, không chỉ là những dụng cụ phân tích thông thường như cân phân tích, pipet, buret, giấy lọc,… mà kể cả những hóa chất cho phân tích, những thiết bị để thực hiện những kỹ thuật phân tích khác nhau. - Khái niệm thành phần hóa học cũng cần được mở rộng, không chỉ là thành phần nguyên tố hóa học mà còn bao gồm một số thành phần khac, đặc biệt là những thành phần cấu trúc của mẫu thử. - Quy trình phân tích thể hiện là một văn bản khoa học nói rõ cách thức cụ thể để xác định một thành phần hóa học nào đó trong một loại mẫu thử.
Khi một quy trình phân tích được chấp nhận là tiêu chuẩn (standard procedure) bởi một tổ chức quốc tế hoặc quốc gia thì nó không những chỉ có giá trị khoa học mà còn có giá trị pháp lý nhất định, Cần nhấn mạnh, không phải chỉ có ngành hóa học mà hầu hết các ngành khoa học công nghệ đều có nhu cầu rất rộng lớn và đa dạng về phân tích hóa học. Điều đó tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy Hóa học Phân tích phát triển và đổi mới. Phân tích hóa học là một phép đo lường Kể từ sau Thế chiến II, các nhà hóa học phân tích ngày càng ý thức được rõ rệt rằng tiến hành phân tích hóa học thực chất là tiến hành một phép đo lường. Vì thế những thành tựu của khoa học đo lường hiện đại đã thâm nhập ngày càng sâu rộng vào mọi lĩnh vực của hóa học phân tích và phân tích hóa học.
Ở đây trình bày tóm tắt sự vận dụng quan điểm đo lường để xem xét một số lĩnh vực quan trong của phân tích hóa học. - Phân chia các giai đoạn của quá trình phân tích hóa học. 5 - Phân loại các sai số trong phân tích hóa học. Đánh giá chất lượng và biểu diễn kết quả phân tích.
Phân chia các giai đoạn của quá trình phân tích hóa học Đây là một quá trình đo lượng gồm ba giai đoạn chính. Giai đoạn chuẩn bị đo lường, gồm 3 bước: Tuyển chọn mẫu đại diện, bảo quản mẫu để giữ cho thành phần hóa học không bị biến đổi trong thời hạn cần thiết. Phân hủy và hòa tan mẫu (hoặc ép viên nếu không cần phân hủy mẫu). Tách loại chất gây nhiễu (nếu cần thiết).
Giai đoạn đo lường (Giai đoạn định lượng), gộp lại thành một bước Tiến hành định lượng theo phương pháp và quy trình đã lựa chọn, có tính đến ảnh hưởng chất gây nhiễu. Dùng chất che nếu cần thiết. Giai đoạn xử lý kết quả đo lường, gồm hai bước: Thanh lọc dữ liệu, loại bỏ số lệch thô bạo (nếu có) Tính toán và biểu diễn kết quả phân tích kèm theo sai số đo lường. Bàn luận về ý nghĩa của kết quả phân tích Hóa học phân tích ngày nay có nhiệm vụ nghiên cứu những cơ sở lý thuyết và thực hành cho từng giai đoạn của quá trình đo lường kể trên.
Phân loại các sai số trong phân tích hóa học – đánh giá chất lượng và biểu diễn kết quả phân tích Mọi kết quả phân tích đều mắc một sai số thực nghiệm nào đó. Việc “xác định” sai số thực nghiệm luôn luôn gắn liền với một xác suất tin cậy nhất định, vì thế trong khoa học đo lường hiện đại thường thay từ “xác định” (to determine) bằng từ “ước lượng” (to estimate), một thuật ngữ thống kê. Các sai số thực nghiệm được phân loại thành sai số hệ thống (SSHT, systematic error) và sai số ngẫu nhiên (SSNN, random error). Sai số hệ thống SSHT còn gọi là sai số xác định (determinate error) vì nó gây ra bởi những khuyết tật nhất định của phương pháp đo lường, thiết bị đo 6 lường, quá trình đo lường và những hạn chế về khả năng quan sát của người đo lường.
Để ước lượng SSHT cho một kết quả phân tích nhất thiết phải tiến hành phân tích thành phần X trong một vật liệu quy chiếu chuẩn (Standard Reference Material – CRM), trên nhãn của vật liệu cho biết giá trị quy ước (reference value) 𝑥𝑟𝑒𝑓 của thành phần X. Từ giá trị trung bình 𝑥̅ thu được trong thực nghiệm này ta ước lượng SSHT theo biểu thức: ∆𝑥 = 𝑥̅ − 𝑥𝑟𝑒𝑓 Đại lượng ∆x được dừng để hiệu chỉnh kết quả phân tích trong các mẫu vật liệu tương tự khác. Quá trình ước lượng SSHT gọi là sự hiệu chuẩn (calibration). Một giá trị trung bình sau khi được hiệu chỉnh sẽ coi như một giá trị đúng của kết quả phân tích: 𝑥̅ − ∆𝑥 = 𝑥̅ ℎ𝑖ệ𝑢 𝑐ℎ𝑢ẩ𝑛 ≈ 𝑥đ Lưu ý rằng đại lượng ∆x có dấu đại số hằng định.
∆x<0 gọi là sai số thiếu, còn ∆x>0 gọi là sai số thừa. Đôi khi có thể ước lượng ∆x dựa trên lý thuyết. Sai số ngẫu nhiên SSNN còn gọi là sai số không xác định (indeterminate error) vì nó gây ra bởi những yếu tố không thể kiểm soát.