Phần mở đầu Phần nội dung Chƣơng 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài 1. Các lí thuyết về truyền thông 1. Phân tích diễn ngôn 1. Diễn ngôn ca từ trong bài hát Cách mạng 1.
Tiểu kết Chƣơng 2: Kết cấu diễn ngôn của ca khúc cách mạng 2. Cấu trúc tên đề 2. Bố cục một ca khúc 2. Đặc điểm của câu mở và câu kết 2.
Thủ pháp so sánh/ví von 2. Phƣơng tiện liên kết 2. Kết cấu đảo 2. Cấu trúc lồng 2.
Các kiểu quan hệ diễn ngôn 2. Nguyên lí song song 2. Vị ngữ phụ 2. Trạng ngữ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tiểu kết Chƣơng 3: Chức năng tác động truyền thông xã hội của ca khúc cách mạng 3. Chức năng tác động qua các hành động ngôn từ 3. Chức năng tác động qua các tiểu chức năng 3. Chức năng tác động qua sự phối hợp giữa âm thanh và ngôn từ 3.
Tiểu kết Phần kết luận Danh mục tài liệu tham khảo Danh mục nguồn tƣ liệu trích dẫn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: Những cơ sở lí luận liên quan đến đề tài 1. Các lí thuyết về truyền thông 1. Truyền thông là gì? Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông là một kiểu tƣơng tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tƣơng tác lẫn nhau, chia sẻ các quy tắc và tín hiệu chung.
Ở dạng đơn giản, thông tin đƣợc truyền từ ngƣời gửi tới ngƣời nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết ngƣời gửi và ngƣời nhận. Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một ngƣời hiểu những gì ngƣời khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tƣợng, và học đƣợc cú pháp của ngôn ngữ. Truyền thông thƣờng gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu.
Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đƣa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi. Các hành động này đƣợc thể hiện qua nhiều hình thức nhƣ động tác, bài viết, bài phát biểu, hay bản tin truyền hình. Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính ngƣời/tổ chức gửi đi thông tin. Theo một tƣ liệu trên http://d3.vn/uploads/previews/301/1933063/preview.swf có nhiều cách định nghĩa lĩnh vực truyền thông, trong đó có truyền thông không bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng.
Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ. Khoảng 93% “ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận đƣợc từ ngƣời khác là qua nét mặt và tông giọng. Khi bạn ngồi yên lặng trong góc phòng, mặc cho mọi ngƣời xung quanh nói hay làm gì thì cũng đang gửi những tín hiệu truyền thông không bằng lời cho những ngƣời xung quanh (cho dù vô tình hay cố ý). 7% còn lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe đƣợc.
Truyền thông bằng lời đƣợc thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ tới ngƣời khác. Truyền thông biểu tƣợng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa và thể hiện TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một ý tƣởng nhất định ví dụ như quốc huy của một quốc gia. Quá trình truyền thông luôn diễn ra một cách liên tục. Hội thoại giữa các cá nhân thƣờng xuất hiện theo cặp hoặc từng nhóm với quy mô khác nhau.
Quy mô của nhóm tham gia thƣờng tác động tới bản chất của cuộc hội thoại. Truyền thông trong nhóm nhỏ thƣờng diễn ra giữa ba đến mƣời hai cá nhân và khác biệt với trao đổi qua lại giữa các nhóm lớn hơn nhƣ công ty hay cộng đồng. Hình thức truyền thông này đƣợc hình thành từ một cặp hay nhiều hơn, thông thƣờng đƣợc đề cập tới nhƣ một mô hình tâm lý học trong đó thông điệp đƣợc truyền từ ngƣời gửi đến ngƣời nhận qua một kênh thông tin. Ở cấp độ lớn nhất, truyền thông đại chúng chuyển các thông điệp tới một lƣợng rất lớn các cá nhân trong cộng đồng thông qua các phƣơng tiện thông tin đại chúng.
Văn thơ, nhạc, kịch, báo chí… đều thuộc về truyền thông đại chúng. Thế nào là truyền thông xã hội? Trƣớc đây hay bây giờ con ngƣời đều có nhu cầu truyền tải thông điệp đến một nhóm lớn các đối tƣợng tiếp nhận. Chỉ có điều phƣơng tiện truyền tải thông tin của ngày xƣa và bây giờ có chút khác biệt. Hiện nay, con ngƣời đã biết dùng những phƣơng tiện thông tin hiện đại cho nhiều mục tiêu, đƣợc thể hiện theo kiểu mới – đó là sử dụng những sản phẩm truyền thông (tin, bài, hình ảnh, video clips…) do ngƣời dùng tạo ra và xuất bản trên Internet thông qua các mạng xã hội hay các diễn đàn, các blog… Các tin, bài này đƣợc cộng đồng mạng chia sẻ và phản hồi (bình luận) nên luôn có tính đối thoại.
Đây là một xu hƣớng truyền thông mới khác hẳn với truyền thông đại chúng trƣớc đây. Đây là hình thức truyền thông dựa vào các tƣơng tác xã hội của cộng đồng những ngƣời sử dụng Internet. Ngƣời dùng Internet ngày nay dễ dàng tiếp cận và tƣơng tác với nhau thông qua các diễn đàn (forum), thông qua chia sẻ hình ảnh, video clip. và đặc biệt là họ có thể kết nối với nhau thông qua các mạng xã hội nhƣ Facebook, Linkedin.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy, hoạt động hướng tới cộng đồng như những đối tượng đích cần được tác động để làm thay đổi thái độ, hành vi theo hướng có lợi cho xã hội thì được gọi là truyền thông xã hội. Truyền thông là các phƣơng tiện truyền tải thông tin. Xã hội là mục đích của truyền thông. Ngôn ngữ là một phƣơng tiện truyền thông tuyệt vời.
Ngôn ngữ trong các bài văn, bài thơ, bài ca (đặc biệt là các bài ca Cách mạng) đƣợc sử dụng một cách đặc biệt có hiệu quả trong việc truyền tải thông điệp đến ngƣời tiếp nhận, làm thay đổi thái độ, hành vi của các cá nhân trong cộng đồng. Luận văn này của chúng tôi tiến hành phân tích diễn ngôn các ca từ trong bài hát Cách mạng giai đoạn 1945 – 1975 cũng là để thấy rõ hơn vai trò của ngôn ngữ trong truyền thông xã hội. Phân tích diễn ngôn 1. Những nét chính trong nghiên cứu diễn ngôn Quan niệm về diễn ngôn đƣợc giới thiệu ở ta sớm nhất trong lĩnh vực ngôn ngữ học.
Có thể kể đến các công trình: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985); Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban (1998, 2009), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 của Đỗ Hữu Châu (2001), Dụng học Việt ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2000), Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lí luận và phương pháp của Nguyễn Hoà (2003), Từ điển tu từ – phong cách – thi pháp học của Nguyễn Thái Hoà (2005),… Bên cạnh những công trình biên khảo nói trên, cũng có một số công trình nghiên cứu về diễn ngôn của nƣớc ngoài đƣợc dịch sang tiếng Việt, chẳng hạn: Dụng học, một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ của George Yule (Hồng Nhâm, Trúc Thanh, Ái Nguyên dịch, 1997); Dẫn nhập phân tích diễn ngôn của David Nunan (Hồ Mỹ Huyền, Trúc Thanh dịch, 1998); Phân tích diễn ngôn của Gillian Brown, George Yule (Trần Thuần dịch, 2002), Dẫn luận ngữ pháp chức năng của Mak Halliday (Hoàng Văn Vân dịch, 2004)… các công trình này tập trung vào mấy điểm sau: diễn ngôn là gì, đặc điểm và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chức năng của diễn ngôn, các vấn đề về ngữ cảnh và ý nghĩa diễn ngôn, cấu trúc thông tin của diễn ngôn, bản chất quy chiếu trong diễn ngôn, các đƣờng hƣớng phân tích diễn ngôn… Cũng có thể kể đến các bài viết: “Phân tích diễn ngôn phê phán là gì?” (tạp chí Ngôn ngữ, 2 -2005), “Khía cạnh văn hoá của phân tích diễn ngôn” (tạp chí Ngôn ngữ, 12 -2005), “Thực hành phân tích diễn ngôn bài Lá rụng” (tạp chí Ngôn ngữ, 2 – 2009), “Một vài dạng cấu trúc nhân quả khó nhận biết trong diễn ngôn nghệ thuật ngôn từ” (tạp chí Ngôn ngữ số 4 – 2009)… Chúng tôi thấy có ít nhất năm nhóm quan niệm về diễn ngôn trong ngôn ngữ học. Nhóm thứ nhất sử dụng khái niệm diễn ngôn (discourse) và văn bản (text) đồng nghĩa với nhau, hoặc phân biệt hai khái niệm này bằng cách đính kèm chúng vào một trong hai dạng tồn tại của ngôn ngữ. Nhóm thứ hai cho rằng diễn ngôn thuộc đơn vị của ngữ nghĩa, còn văn bản thuộc đơn vị của ngữ pháp. Nhóm thứ ba quan niệm diễn ngôn chịu sự phán xét của dụng học, còn văn bản trở thành đối tƣợng của ngôn ngữ học văn bản.
Nhóm thứ tư đề nghị nên sử dụng tên gọi diễn ngôn để chỉ quá trình giao tiếp, sự kiện giao tiếp có tính chỉnh thể và có mục đích; còn thuật ngữ văn bản dùng để chỉ sản phẩm của quá trình giao tiếp, sự kiện giao tiếp ấy. Nhóm thứ năm gồm chức năng luận chủ trƣơng đặt diễn ngôn vào ngữ cảnh văn hoá xã hội, và cấu trúc luận thiên về mô tả cấu trúc độc lập của diễn ngôn. Quan niệm về diễn ngôn cũng đã đƣợc giới thiệu trong khoa học văn học, song còn ở tình trạng tản mạn, hoặc chủ yếu ở dạng thực hành phân tích. Có thể kể đến các công trình: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học của Trịnh Bá Đĩnh (2002); Sự đỏng đảnh của phương pháp do Đỗ Lai Thuý biên soạn và giới thiệu (2004); Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lí thuyết, Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến tổ chức biên soạn (2003); Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỉ 20, Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân dịch (2003); Logic học về các thể loại văn học của Kate Hamburger, Vũ Hoàng Địch và Trần Ngọc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vương dịch (2004); Tác phẩm như là quá trình của Trương Đăng Dung (2007); Thi pháp văn xuôi, Dẫn luận về văn chương kì ảo của Tzevan Todorov, Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch (2003, 2007); Bản mệnh của lí thuyết của Antoine Compagnon, Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch (2006); Nhập môn Foucault của L.
Susser, Nguyễn Tuệ Đan, Tôn Thất Huy dịch (2006); Thi học và ngữ học của Jakobson, Trần Duy Châu biên khảo (2008); Lý luận – phê bình văn học thế giới thế kỉ XX, tập 1, 2, Lộc Phương Thuỷ chủ biên (2007); Mấy vấn đề phê bình và lí thuyết văn học của Nguyễn Hưng Quốc (2007); Những huyền thoại của R.