ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tƣơng tác giữa sinh vật với môi trƣờng. Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con ngƣời cũng nhƣ môi trƣờng: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy, điều hòa nƣớc, là nơi cƣ trú động thực vật và là nơi lƣu giữ nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con ngƣời…Vì vậy, tỷ lệ đất có rừng che phủ của một quốc gia là một chỉ tiêu an ninh môi trƣờng quan trọng (diện tích đất có rừng đảm bảo an toàn môi trƣờng của một quốc gia tối ƣu là 45% tổng diện tích). Sự quan hệ của rừng và cuộc sống đã trở thành một mối quan hệ hữu cơ. Không có một dân tộc, một quốc gia nào không biết rõ vai trò quan trọng của rừng trong cuộc sống.
Tuy nhiên, ngày nay nhiều nơi con ngƣời đã không bảo vệ đƣợc rừng, chặt phá bừa bãi làm cho tài nguyên rừng khó đƣợc phục hồi và ngày càng bị cạn kiệt, nhiều nơi rừng không còn có thể tái sinh, đất trở thành đồi trọc, sa mạc, nƣớc mƣa tạo thành những dòng lũ rửa trôi chất dinh dƣỡng, gây lũ lụt, sạt lở cho vùng đồng bằng gây thiệt hại nhiều về tài sản, tính mạng ngƣời dân. Vai trò của rừng trong việc bảo vệ môi trƣờng đang trở thành vấn đề thời sự và lôi cuốn sự quan tâm của toàn thế giới. Trƣớc thực trạng đó đòi hỏi nhà nƣớc phải có những biện pháp phù hợp để bảo vệ rừng, cần tăng cƣờng hơn nữa công tác quản lý Nhà nƣớc đối với tài nguyên rừng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của công tác theo dõi đánh giá và dự báo xu thế diễn biến rừng làm căn cứ khoa học cho việc xây dựng các chiến lƣợc hoặc kế hoạch phát triển tài nguyên rừng và nghề rừng trên phạm vi toàn quốc cũng nhƣ các địa phƣơng. Theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp hàng năm là một trong những hoạt động quan trọng của ngành lâm nghiệp.
Kết quả kiểm kê, theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp có ý nghĩa quan trọng phục vụ việc hoạch định các chủ trƣơng, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng hoặc định hƣớng phát triển kinh doanh Lâm nghiệp đối với các đơn vị chủ rừng. download by : skknchat@gmail.com 2 Đồng Nai là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, là cửa ngõ phía Đông của thành phố Hồ Chí Minh. Phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và Bình Phƣớc, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Bình Dƣơng và TP Hồ Chí Minh, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Với đặc thù là một tỉnh công nghiệp đồng thời giáp ranh với các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và tỉnh Bình Dƣơng cũng là các tỉnh có các khu công nghiệp phát triển mạnh, do đó vai trò phòng hộ của rừng của Đồng Nai càng trở nên quan trọng hơn.
Theo kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng đến 30/7/2015, tỉnh Đồng Nai có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là: 199. Trong đó tổng diện tích nằm trong quy hoạch ba loại rừng là 180.403,9 ha (rừng đặc dụng: 104.517,9 ha; rừng phòng hộ: 40.284,4 ha và rừng sản xuất: 35.601,6 ha); diện tích nằm ngoài quy hoạch ba loại rừng là 19.276,5 ha (rừng tự nhiên 465,5 ha, rừng trồng 18. Độ che phủ rừng toàn tỉnh là 30,8%. Diện tích rừng tập trung ở khu vực phía Bắc của tỉnh thuộc các huyện: Tân Phú, Định Quán và Vĩnh Cửu (Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Đồng Nai, 2015).
Trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu có 02 đơn vị chủ rừng lớn là Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai và Xí nghiệp nguyên liệu giấy miền Đông Nam Bộ đƣợc Nhà nƣớc giao rừng và đất lâm nghiệp nhằm mục đích quản lý, bảo vệ rừng (BVR) đặc dụng, rừng phòng hộ và kinh doanh rừng trồng, ngoài ra còn có các diện tích rừng tự trồng của các hộ dân sống tại địa phƣơng. Trong những năm gần đây, rừng trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu có nhiều diễn biến phức tạp dƣới tác động của các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, ảnh hƣởng nhiều đến kết theo dõi diễn biến rừng hàng năm của huyện. Trên cơ sở đó cần phải có đánh giá về thực trạng và diễn biến tài nguyên rừng của huyện làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý bảo vệ rừng một cách có hiệu quả.
Trƣớc yêu cầu đó, tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Phân tích thực trạng và đánh giá diễn biến tài nguyên rừng tại huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai ”. download by : skknchat@gmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan Bảo tồn trữ lượng các bon rừng: Bảo tồn rừng, các bể chứa các bon, các bể lƣu trữ các bon rừng và khả năng hấp thụ và lƣu trữ các bon của chúng.
Bảo tồn thƣờng đƣợc xem là một hoạt động không tạo ra phát thải mà chỉ duy trì trữ lƣợng các bon (UN-REDD, 2016)[7]. Mất rừng: Theo thỏa thuận Marrakech (Marrakesh Accords), mất rừng là hoạt động trực tiếp chuyển đổi đất có rừng sang đất không có rừng do con ngƣời gây ra (với độ tàn che thấp hơn 10%) (UN-REDD, 2016)[7]. Suy thoái (hoặc suy thoái rừng): Mô tả thực trạng rừng bị suy giảm so với khả năng sinh trƣởng tự nhiên của rừng, nhƣng vẫn cao hơn ngƣỡng 10% độ tàn che. Nếu độ tàn che bị suy giảm thấp hơn 10% sẽ bị coi là mất rừng (UN-REDD, 2016) [7].
Dịch chuyển phát thải: Nỗ lực giảm mất rừng và suy thoái rừng ở một khu vực có thể gây ra áp lực làm mất rừng và suy thoái rừng ở các vùng khác và do đó việc giảm phát thải ở nơi này có thể sẽ là nguyên nhân gây phát thải ở nơi khác (UN-REDD, 2016)[7]. Cường độ suy thoái rừng: Suy thoái rừng đang diễn ra tại các nƣớc châu Á - Thái Bình Dƣơng, bất kể độ che phủ rừng có giảm đi, ổn định hay tăng lên. Tại một số nƣớc có độ che phủ rừng cao, suy thoái rừng có thể là xúc tác cho việc mất rừng và làm tăng phát thải. Đối với các quốc gia có độ che phủ rừng thấp hơn, rừng suy thoái không bị ảnh hƣởng nhiều từ việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng.
Đối với các tình huống này, có khả năng sẽ khôi phục lại đƣợc lƣợng carbon (RECOFTC, 2009)[15]. download by : skknchat@gmail.com 4 Đánh giá suy thoái rừng: Suy thoái rừng ảnh hƣớng tới trạng thái chung của rừng một cách khó nhận thấy hơn so với việc mất rừng. Cần phải có các phƣơng pháp đo lƣờng và giám sát trực tiếp để hiểu đƣợc mức độ của những tác động này (RECOFTC, 2009)[15]. Giải quyết suy thoái rừng: Suy thoái rừng chỉ có thể đƣợc giải quyết nếu hệ thống quản trị rừng đƣợc cải thiện; và nếu quyền của tất cả các bên liên quan, đặc biệt là ngƣời sử dụng rừng địa phƣơng đƣợc chỉ ra rõ ràng.
Tại mỗi quốc gia, nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp của suy thoái rừng cần phải đƣợc xác định nhằm làm cơ sở cho việc xác định các giải pháp hiệu quả cho công tác quản lý rừng bền vững(RECOFTC, 2009)[15]. Nguyên nhân mất rừng và suy thoái rừng (UN-REDD, 2016)[7]: Bao gồm ngyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp gây ra mất rừng và suy thoái rừng. Trong bối cảnh REDD+, nguyên nhân là các hoạt động hoặc tiến trình gây ra mất rừng và suy thoái rừng, Cụ thể: Nguyên nhân trực tiếp là các hoạt động của con ngƣời trực tiếp làm giảm độ che phủ và trữ lƣợng các bon của rừng; Nguyên nhân gián tiếp là sự tƣơng tác tổng hợp của các quá trình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và khoa học công nghệ 1. Viễn thám và GIS ứng dụng trong nghiên cứu tài nguyên rừng Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển của công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) mở ra nhiều hƣớng ứng dụng trong nhiều ngành khoa học và công tác quản lý, đặc biệt đối với lĩnh vực tài nguyên rừng và môi trƣờng.
Công nghệ này không chỉ là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc quản lý cơ sở dữ liệu, phân tích dữ liệu để lựa chọn các giải pháp quản lý, sử dụng bền vững và có hiệu quả nguồn tài nguyên mà còn đang phát triển theo hƣớng tích hợp những kiến thức và kinh nghiệm của con ngƣời trong quản lý bền vững tài nguyên, trong đó bao gồm cả tài nguyên rừng. Việc sử dụng công download by : skknchat@gmail.com 5 nghệ tích hợp dữ liệu GIS và Viễn thám cho phép tạo nên một giải pháp cập nhật, xây dựng dữ liệu, phân tích biến động hiệu quả và hỗ trợ ra quyết định nhanh, trên phạm vi rộng với giá thành rẻ nhất so với biện pháp truyền thống (Nguyễn Kim Lợi và cộng sự, 2009)[13]. Viễn thám thu nhận từ xa các thông tin về các đối tƣợng, hiện tƣợng trên trái đất bằng cách sử dụng thiết bị, công nghệ đo lƣờng từ xa, một cách gián tiếp để nhận biết các thông tin về các đối tƣợng trên bề mặt trái đất mà không cần tiếp xúc chúng. Phƣơng pháp này sử dụng năng lƣợng điện từ nhƣ ánh sáng, nhiệt, sóng cực ngắn nhƣ một phƣơng tiện để điều tra và đo đạc những đặc tính của đối tƣợng (Nguyễn Ngọc Thạch và cộng sự, 1997)[16].
Hiện nay có rất nhiều dữ liệu viễn thám đƣợc ứng dụng nhiều nhƣ: Ảnh quang học đƣợc tạo ra bởi việc thu nhận các bƣớc sóng ánh sáng nhìn thấy (bƣớc sóng 0,4 – 0,76 micromet); Ảnh hồng ngoại là loại ảnh đƣợc tạo ra bởi việc thu nhận các bƣớc sóng hồng ngoại phát ra từ vật thể (bƣớc sóng 8 – 14 micromet); Ảnh radar là loại ảnh đƣợc tạo ra bởi việc thu nhận các bƣớc sóng trong dải sóng cao tần (bƣớc sóng lớn hơn 2 cm); Ảnh viễn thám có thể đƣợc lƣu theo các kênh ảnh đơn (ảnh trắng đen) hoặc các kênh ảnh đƣợc tổ hợp (ảnh màu) ở dạng số trong máy tính hoặc có thể in ra giấy, tùy theo mục đích ngƣời sử dụng.