Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu. Chương 2: Các mô hình phân tích. Chương 3: Thực trạng chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình. Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng tới chi tiêu cho giáo dục của Hộ gia đình và tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ đi học.
Những đóng góp mới của luận án Luận án sử dụng chủ yếu là phương pháp nghiên cứu định lượng, với các mô hình kinh tế lượng hiện đại, có độ tin cậy cao để giải quyết một số vấn đề khoa học có ý nghĩa quan trọng về lý thuyết và thực tiễn. Những điểm mới của luận án như sau: (1) Luận án đã làm rõ cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây về chi tiêu giáo dục của hộ gia đình và chỉ ra được các yếu tố về đặc điểm chủ hộ, đặc điểm hộ gia đình và quy mô hộ gia đình có ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình. Ngoài ra luận án đã đánh giá được tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ đi học các cấp như thế nào? Trên cơ sở đó, luận án đã xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu để làm căn cứ cho các mô hình thực nghiệm của phần sau. (2) Luận án đã thực hiện kết hợp phương pháp thống kê mô tả nhằm phân tích rõ thực trạng chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Việt Nam theo các phân lớp thống kê bằng số liệu điều tra mức sống hộ gia đình qua các năm từ 2004 đến 2016.
(3) Luận án sử dụng đồng thời nhiều mô hình nghiên cứu định lượng hiện đại còn ít được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây đặc biệt là sử dụng dữ liệu mảng cho các mô hình này. Mặt khác, nghiên cứu còn tận dụng cấu trúc số liệu mảng có dạng phân lớp phù hợp với mô hình được lựa chọn để phân tích ba hình thức chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình ở nhiều khía cạnh và nhiều cấp độ khác nhau và phân tích tác động của một số loại hình chi tiêu cho giáo dục như chi cho học thêm, chi cho học phí, chi phí khác (quần áo, sách vở, các khoản đóng góp.) và chi ngân sách cho giáo dục đến tỉ lệ đi học các cấp. Hy vọng nghiên cứu này là tiền đề cho nhiều nghiên cứu tiếp sau với phương pháp tiếp cận của kinh tế lượng hiện đại như các mô hình số liệu mảng; mô hình số liệu mảng đa bậc, mô hình tobit với số liệu mảng,. cho phép phân tích được sâu hơn.
(4) Các kết quả nghiên cứu của luận án từ mô hình nghiên cứu thực nghiệm là cơ sở để đề xuất một số khuyến nghị về chính sách liên quan đến chi tiêu cho giáo dục của khối tư nhân, đặc biệt là của hộ gia đình. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này trình bày tổng quan lý thuyết và tổng quan khảo sát các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu khác nhau và định hướng cho các yếu tố ảnh hưởng dựa trên lý thuyết. Tổng quan lý thuyết cung cấp mô tả và tóm tắt các lập luận khác nhau, giải thích mối quan hệ giữa các biến được nghiên cứu. Tổng quan lý thuyết thực nghiệm trình bày mô tả và tóm lược các nghiên cứu trước đây liên quan đến các vấn đề, so sánh và khái niệm của nghiên cứu hiện tại trong mối quan hệ với các nghiên cứu trước đó.
Một số lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu Phần này trình bày một số lý thuyết mà luận án sử dụng trong nghiên cứu. Nghiên cứu này sử dụng chủ yếu hai lý thuyết, đó là Lý thuyết vốn con người và lý thuyết hàm sản xuất hộ gia đình. Những lý thuyết này cung cấp cơ sở để hiểu rõ mối quan hệ giữa các biến được nghiên cứu trong luận án. Lý thuyết vốn con người và vai trò của giáo dục đối với phát triển vốn con người 1.
Khái niệm vốn con người Theo từ điển kinh tế vốn (Capital) được định nghĩa là giá trị của tư bản hay hàng hoá đầu tư được sử dụng vào kinh doanh để mang lại lợi ích. Theo nghĩa này vốn được coi là vốn hữu hình. Tuy nhiên vốn con người theo Mincer Jacob và cộng sự (1974), cũng giống như vốn hữu hình, vốn con người muốn có thì con người phải đầu tư để tích luỹ thông qua giáo dục, rèn luyện trong lao động và thuộc về mỗi người, nó đem lại cho con người sở hữu nó khoản thu nhập. Nguyễn Văn Ngọc (2006) cho rằng vốn con người là khái niệm để chỉ toàn bộ hiểu biết của con người về phương thức tiến hành các hoạt động kinh tế xã hội.
Như vậy vốn con người được xem là những kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng tích lũy trong quá trình giáo dục, đào tạo và trong cuộc sống lao động hàng ngày. Cụ thể vốn con người được cấu thành từ ba thành tố chính: (1) khả năng bẩm sinh hay năng lực ban đầu của cá nhân khi sinh ra; (2) trình độ chuyên môn và kiến thức tích lũy thông qua giáo dục chính thức; (3) Kỹ năng, năng lực và kinh nghiệm có được từ công việc (Blundell, R. và cộng sự, 1999). Năng lực ban đầu nhận được từ cha mẹ và các điều kiện của gia đình và xã hội khi chăm lo cho bà mẹ mang thai và sinh nở.
Khi đi học để có năng lực con người phải bỏ ra chi phí học hành và cuối cùng những trải nghiệm trong cuộc sống làm việc nhiều trường hợp người ta phải trả giá rất cao. 14 Bùi Quang Bình (2009) cho rằng năng lực ban đầu được thừa hưởng từ di truyền của cha mẹ và sự chăm sóc thai nhi gắn liền với điều kiện kinh tế gia đình, sự cấu thành cho yếu tố thứ hai là quá trình đầu tư giáo dục cho trẻ của cha mẹ thông qua chi tiêu giáo dục, yếu tố thứ ba là quá trình tự tích lũy của bản thân cá nhân trong cuộc sống. Do đó năng lực ban đầu và trình độ chuyên môn được xem là nền tảng cho năng lực và kinh nghiệm trong cuộc sống. Cũng theo Bùi Quang Bình (2009), vốn con người là vốn vô hình, khác biệt với các loại vốn khác là không thể bán hoặc thế chấp, và đặc biệt nó không thể tách rời khỏi cá nhân hình thành nên vốn, do đó trong quá trình đầu tư tích lũy vốn con người, nếu không cập nhật kiến thức thường xuyên và tích lũy kinh nghiệm thì vốn con người có thể bị hao mòn bởi yếu tố khách quan như kiến thức mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật và yếu tố chủ quan như sự quên lãng kiến thức của cá nhân.S (1964) cho rằng vốn con người như một phương tiện vật chất của sản xuất, có hữu dụng trực tiếp và làm tăng năng suất lao động, tất cả các hoạt động có ảnh hưởng đến thu nhập thực tế trong tương lai đều thông qua đầu tư các nguồn lực trong con người, hơn nữa đầu tư vào vốn con người giống như đầu tư vào vốn vật chất nhằm khai thác tỷ suất lợi nhuận trong tương lai, những yếu tố như giáo dục đào tạo và sức khỏe được xem như những khoản đầu tư quan trọng nhất cho vốn con người.
Hơn nữa vốn con người có ý tưởng cho rằng dù có hay không có liên quan đến chi phí và lợi ích đầu tư thì các quyết định vẫn được phân tích theo kinh tế tư nhân và kinh tế công cộng (Mincer, J, 1981). Như vậy vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích luỹ trong mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động được thể hiện trong quá trình sử dụng trong sản xuất. Vốn con người cũng hao mòn và phải tốn chi phí đề đầu tư hình thành và là nguồn vốn quan trọng nhất để phát triển của mỗi doanh nghiệp và quốc gia. Đầu tư vốn con người a.
Mô hình đầu tư vốn con người của cha mẹ cho trẻ Theo Yueh (2001) cuộc sống của mỗi con người trải qua ba giai đoạn, giai đoạn thứ nhất đang còn là một đứa trẻ, giai đoạn thứ hai là người trưởng thành có gia đình và con cái, giai đoạn cuối cùng là người già đã nghỉ hưu và có cháu. Cụ thể, ở giai đoạn đầu tiên lợi ích mang lại cho cá nhân là sự đầu tư cho giáo dục của cha mẹ của trẻ, ở giai đoạn thứ hai, khi các cá nhân đó đã trưởng thành, lập gia đình và trở thành cha, mẹ có khả năng làm việc tạo thu nhập, khi đó một phần thu nhập được phân phối trở lại cha mẹ họ. Giai đoạn thứ ba, họ đã là người về hưu, thu nhập của họ có được từ lợi nhuận của tài sản được tích lũy ở giai đoạn thứ hai và một phần thu nhập được phân phối lại 15 chính từ con cái của họ. Khi đó cha mẹ sẽ giảm các khoản chi tiêu cơ bản và quyết định đầu tư vào vốn con người qua chi tiêu giáo dục cho trẻ, được thúc đẩy bởi lợi nhuận từ thu nhập tương lai của trẻ và thu nhập của gia đình vợ chồng trẻ.
Hiển nhiên cha mẹ không đầu tư giáo dục vào vợ hoặc chồng của con họ, nhưng thu nhập của họ nhận được trong giai đoạn thứ ba, có được từ sự phân phối một phần thu nhập tương lai trong gia đình vợ chồng trẻ. Như vậy, đầu tư giáo dục mang lại cho cha mẹ hai lợi ích, lợi ích trực tiếp có được từ sự phân phối thu nhập tương lai của trẻ lúc trưởng thành, lợi ích gián tiếp có được khi trẻ được đầu tư giáo dục tốt thì trình độ học vấn tốt nên khả năng kết hôn với người có thu nhập cao sẽ tăng hơn, từ đó tạo ra thu nhập tương lai tốt hơn cho gia đình vợ chồng trẻ cũng như phần thu nhập phân phối cho cha mẹ ở giai đoạn ba sẽ nhiều hơn. Năng suất từ khoản đầu tư giáo dục của cha mẹ thường không ổn định như các hình thức đầu tư tài sản khác bởi con người phải luôn cập nhật những kiến thức mới, tích lũy kỹ năng hàng ngày để có thu nhập ổn định, hơn nữa, giống như những hình thức đầu tư vốn vật chất, nó cũng đem lại rủi ro về thu nhập tương lai của cha mẹ khi vợ chồng trẻ phân phối thu nhập chi tiêu giáo dục cho con họ nhiều hơn giành cho cha mẹ.