Tổng quan luận án

Vấn đề đầu tư vào giáo dục và phát triển vốn con người là một trong những động lực then chốt đối với tăng trưởng kinh tế ở tầm vĩ mô và là phương thức cơ bản nhằm gia tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo đối với từng hộ gia đình ở cấp độ vi mô. Trong bối cảnh Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân xấp xỉ 7%/năm qua hơn hai thập kỷ và tỷ lệ nghèo giảm từ 57% năm 1990 xuống còn 13,5% năm 2014 (theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2016), hệ thống giáo dục quốc dân đối mặt với nhiều sức ép mới. Mặc dù tỷ lệ dân số trong độ tuổi 25 - 55 chưa qua đào tạo hoặc chưa đạt bất kỳ trình độ học vấn nào đã giảm xuống dưới 1% trong giai đoạn 2010 - 2016, tỷ lệ nhập học thực tế lại sụt giảm rõ rệt khi lên các bậc học cao hơn, đặc biệt tập trung ở nhóm đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Áp lực từ học phí, các khoản đóng góp và tình trạng học thêm gia tăng khiến khả năng trang trải của các hộ gia đình có thu nhập thấp bị thu hẹp, từ đó cản trở việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục có chất lượng. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Toán kinh tế (mã số: 9310101) của nghiên cứu sinh Hoàng Thanh Nghị, thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Mạnh Thế và TS. Nguyễn Thị Hải Vân vào năm 2020 với đề tài "Các mô hình phân tích một số chỉ tiêu giáo dục Việt Nam", được xây dựng nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm này.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là ứng dụng các mô hình kinh tế lượng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hai chỉ tiêu cơ bản của giáo dục Việt Nam: mức chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình và tác động của chi tiêu giáo dục đến tỷ lệ đi học của học sinh.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể được xác định như sau:

  1. Phân tích thực trạng chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Việt Nam giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2016 theo các yếu tố ảnh hưởng đã được xác định trong mô hình lý thuyết và thực trạng tỷ lệ đi học của học sinh.
  2. Nghiên cứu mô hình lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu thực nghiệm phân tích các chỉ tiêu về chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình và tỷ lệ học sinh đi học cấp tỉnh.
  3. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tổng chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình; các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục bậc phổ thông và bậc đại học của các hộ gia đình; xem xét sự ảnh hưởng khác nhau của các yếu tố đến chi tiêu giáo dục giữa hai khu vực thành thị và nông thôn.
  4. Nghiên cứu tác động của chi tiêu giáo dục đến tỷ lệ học sinh đi học cấp tỉnh.
  5. Trên cơ sở kết quả ước lượng mô hình thực nghiệm, đề xuất một số khuyến nghị và hàm ý chính sách.

Để đạt được các mục tiêu trên, luận án tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thực trạng chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình Việt Nam trong những năm qua như thế nào?
  2. Những nhân tố nào ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình nói chung và chi tiêu cho giáo dục phổ thông, giáo dục đại học của các hộ gia đình và ảnh hưởng như thế nào?
  3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục khác nhau như thế nào giữa khu vực sống thành thị và nông thôn?
  4. Nhân tố nào ảnh hưởng đến tỷ lệ học sinh nhập học và chi tiêu cho giáo dục có tác động như thế nào tới tỷ lệ học sinh nhập học?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các mô hình phân tích chỉ tiêu giáo dục Việt Nam, tập trung vào chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình và tỷ lệ đi học các cấp của các tỉnh, thành phố. Phạm vi nghiên cứu về nội dung giới hạn ở chi tiêu giáo dục gia đình (tổng chi tiêu, chi tiêu giáo dục phổ thông, chi tiêu giáo dục đại học, chi phí học thêm, học phí, các khoản đóng góp) và tỷ lệ học sinh nhập học cấp tỉnh. Phạm vi không gian bao trùm phạm vi toàn quốc, có sự phân tổ so sánh theo khu vực thành thị - nông thôn và 6 vùng kinh tế - xã hội. Phạm vi thời gian bao gồm chuỗi số liệu khảo sát thực trạng từ năm 2004 đến năm 2016, số liệu phân tích mô hình mảng hộ gia đình giai đoạn 2010 - 2014 cùng số liệu chéo năm 2016, kết hợp số liệu Niên giám Thống kê các năm 2012, 2014 và 2016 ở cấp độ tỉnh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các nghiên cứu quốc tế về chi tiêu giáo dục của hộ gia đình đã chỉ ra nhiều khía cạnh tương đồng về các nhóm nhân tố tác động. Hashimoto và Heath (1995) tại Nhật Bản phát hiện độ co giãn của thu nhập đối với chi tiêu giáo dục đạt mức cao nhất ở nhóm hộ gia đình có thu nhập trung bình. Ngwilizi (2013) sử dụng số liệu khảo sát tại Tanzania giai đoạn 2010 - 2011 xác nhận quy mô hộ, thu nhập hộ, trình độ học vấn của chủ hộ và số lượng trẻ em trong độ tuổi đi học là các nhân tố quyết định chi tiêu giáo dục; trong đó tuổi của chủ hộ có ý nghĩa ở cả hai khu vực, nhưng giới tính chủ hộ không có tác động đáng kể ở thành thị. Awudu và Ogundari (2014) áp dụng mô hình hai rào cản (double-hurdle) tại Nigeria, chỉ ra rằng các hộ do phụ nữ làm chủ hộ có xu hướng chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục và dịch vụ y tế so với hộ do nam giới làm chủ hộ. Tại Trung Quốc, Knight và Shi (1996) tính toán cứ 100 Nhân dân tệ (RMB) thu nhập bình quân đầu người tăng thêm thì chi tiêu học tập tăng tương ứng 1,2 RMB đối với mẫu chung và tăng 3 RMB tại khu vực nông thôn; Tsui và Rich (2002) điều tra tại Vũ Hán ghi nhận hơn 80% phụ huynh mong muốn con đạt trình độ cao đẳng trở lên và dành 15% thu nhập hàng tháng cho con học tập; Li và Min (2000, 2001) khẳng định thu nhập, nơi cư trú và học vấn cha mẹ tác động trực tiếp đến khả năng sẵn sàng chi trả cho giáo dục đại học; Yueh (2006) sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu hai giai đoạn (2SLS) chỉ ra hộ một con chi tiêu cho giáo dục cao hơn hộ nhiều con 2,55%; Qian và Smyth (2008) tại 32 thành phố của Trung Quốc nhận thấy học vấn và chuyên môn nghề nghiệp của cha mẹ thúc đẩy chi tiêu giáo dục, trong khi số trẻ ở độ tuổi đại học có hệ số âm nhưng không có ý nghĩa thống kê.

Về tỷ lệ đi học và nhu cầu tiếp cận giáo dục, Tansel (2002) tại Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận học vấn gắn liền với thu nhập hộ gia đình và tác động của thu nhập lên việc học tập của trẻ em gái lớn hơn trẻ em trai. Meng Zhao và Glewwe (2007) sử dụng hồi quy Probit ở nông thôn Trung Quốc, phát hiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ, thu nhập hộ, trình độ của người mẹ cùng điều kiện phòng thí nghiệm và tiền lương giáo viên có tác động tích cực đến số năm hoàn thành việc học. Mariara và Kirii (2006) tại Kenya áp dụng mô hình Probit và Probit thứ tự, nhận định khu vực nông thôn phản ứng nhanh hơn với các thay đổi chính sách giáo dục so với thành thị. Al-Samarrai và Reilly / Tessa (1992) dùng mô hình Logit tại Tanzania cho thấy học vấn của người mẹ làm tăng xác suất học trung học phổ thông của con gái lên 9,7% (nếu mẹ học tiểu học) và 17,6% (nếu mẹ học trung học). Owen và Nerman (2011) kiểm định chính sách xóa bỏ học phí năm 2000 tại Tanzania, kết luận trẻ em có hoàn cảnh khó khăn vẫn chịu bất lợi cấu trúc trong việc duy trì đi học.

Tại Việt Nam, Glewwe và Patrinos (1999) sử dụng dữ liệu Điều tra mức sống dân cư (VLSS) 1992 - 1993, ghi nhận hộ gia đình đô thị chi cho giáo dục cao hơn nông thôn 79%, hộ người Hoa chi cao hơn người Kinh 35%, và chi tiêu cho trẻ em gái thấp hơn bé trai khoảng 5%. Dương (2004) dùng mô hình Logistic khảo sát 360 hộ tại huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc), kết luận vốn xã hội, vốn con người và tương tác gia đình làm tăng sự đi học của trẻ. Huy Vu Quang (2012) áp dụng mô hình Tobit trên dữ liệu VHLSS 2006 (9.189 hộ), chỉ ra rằng việc gia tăng số trẻ trong độ tuổi tiểu học và trung học làm tăng chi tiêu giáo dục, trong khi gia tăng số thành viên ở độ tuổi mầm non và đại học lại làm giảm chỉ tiêu này. Trần Thanh Sơn (2012) dùng OLS khảo sát 594 hộ vùng Đông Nam Bộ từ dữ liệu VHLSS 2008, khẳng định tổng chi tiêu, học vấn chủ hộ, nơi sống thành thị và trợ cấp giáo dục tác động cùng chiều đến chi tiêu học tập. Đào Thị Yến Nhi (2013) phân tích chi tiêu giáo dục trung học, ghi nhận logarit chi tiêu bình quân và chi tiêu lương thực có tác động dương, trong khi tuổi chủ hộ có quan hệ phi tuyến bậc hai. Khổng Tiến Dũng và cộng sự (2014) dùng mô hình Tobit kiểm duyệt trên số liệu VHLSS 2010 ở Đồng bằng sông Cửu Long, chứng minh học vấn, tuổi chủ hộ, thu nhập và việc học thêm đóng góp làm tăng chi phí giáo dục. Behrman và Knowles (1999) chỉ ra học phí chỉ chiếm một phần ba tổng các khoản tiền nộp trực tiếp cho nhà trường và chiếm tỷ trọng nhỏ trong toàn bộ chi phí giáo dục của gia đình. Glewwe (2004) tổng kết các yếu tố hoàn thành tiểu học và trung học cơ sở chịu ảnh hưởng lớn từ học vấn cha mẹ, mức cung trường lớp, chất lượng phòng học và kinh nghiệm của giáo viên.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: Các công trình tại Việt Nam trước đây chủ yếu sử dụng số liệu cắt ngang từng năm riêng lẻ hoặc khảo sát trong phạm vi hẹp ở một vùng địa phương, đa số áp dụng mô hình hồi quy bình phương tối thiểu nhỏ nhất (OLS) hoặc Tobit cắt ngang đơn thuần. Việc xử lý đồng thời cấu trúc phân tầng (dữ liệu lồng ghép giữa hộ gia đình với cấp xã, huyện, tỉnh) đối với giáo dục phổ thông chưa được giải quyết bằng mô hình hồi quy số liệu mảng đa mức. Đồng thời, hiện tượng giá trị chi tiêu bằng 0 rất lớn ở bậc đại học chưa được mô hình hóa thỏa đáng bằng kỹ thuật Tobit số liệu mảng kết hợp ước lượng tác động biên. Luận án lựa chọn giải quyết các khoảng trống này thông qua việc phân tích bóc tách riêng biệt giữa giáo dục phổ thông và đại học, phân tích tác động biên theo khu vực thành thị - nông thôn, và kiểm định tác động của từng cấu phần chi tiêu hộ gia đình (học phí, học thêm, chi phí khác) cùng chi ngân sách công lên tỷ lệ đi học cấp tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hai lý thuyết cốt lõi làm nền tảng phân tích:

  1. Lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory): Khởi xướng và phát triển bởi Schultz (1961), Becker (1964), Mincer (1974, 1981). Vốn con người là toàn bộ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm được tích lũy thông qua giáo dục, đào tạo và hoạt động thực tiễn lao động. Cấu trúc vốn con người gồm ba thành tố: khả năng bẩm sinh di truyền ban đầu; trình độ chuyên môn tích lũy qua giáo dục chính quy; kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy từ công việc (Blundell và cộng sự, 1999; Bùi Quang Bình, 2009). Theo mô hình chu kỳ ba giai đoạn đời người của Yueh (2001), cha mẹ đầu tư giáo dục cho con cái nhằm tối ưu hóa lợi ích trực tiếp từ thu nhập chuyển giao tương lai và lợi ích gián tiếp qua cơ hội hôn nhân. Becker (1964), Ehrenberg và Smith (2011) chỉ ra rằng chi phí bổ sung vốn con người gồm chi phí trực tiếp, chi phí cơ hội (thu nhập bị bỏ qua) và tổn thất tinh thần.
  2. Lý thuyết hàm sản xuất hộ gia đình (Household Production Function): Do Behrman, Pollak và Taubman (1982) đề xuất, được phát triển bởi Kutty (2008), Pollak (2002), Becker (1995) và Grossman (2000). Hộ gia đình được nhìn nhận là một đơn vị kinh tế vừa sản xuất vừa tiêu dùng, kết hợp các đầu vào (học phí, sách vở, thời gian giám sát của cha mẹ, môi trường sống, dạy kèm ngoài giờ) để sản xuất ra kết quả giáo dục nhằm tối đa hóa hàm hữu dụng dưới sự ràng buộc về ngân sách gia đình. Quyền thương lượng nội bộ của các thành viên (Sen, 1990; Al-Samarrai và Reilly / Tessa, 1992) chi phối quyết định phân bổ nguồn lực cho giáo dục.

Các khái niệm cơ bản được chuẩn hóa theo quy định hiện hành và chuẩn mực thống kê: Hộ gia đình (Tổng cục Thống kê và Điều 106 Bộ luật Dân sự 2005); Chủ hộ (Ủy ban Châu Âu 2010 và Bộ luật Dân sự 2005); Thu nhập và Chi tiêu hộ gia đình; Chi tiêu giáo dục gia đình (phân loại theo Lassibille 1994 gồm tiền mặt, đồ dùng học tập, dịch vụ phụ trợ, lãi vay; theo Ủy ban Châu Âu 2010 gồm chi phí trực tiếp, gián tiếp, cơ hội); Tỷ lệ đi học chung cấp học X (tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa số học sinh đang học cấp X so với tổng số người trong độ tuổi tương ứng theo quy định của Tổng cục Thống kê).

Về phương pháp thực tế, luận án áp dụng hướng tiếp cận định lượng kinh tế lượng, sử dụng phần mềm Stata 14 để xử lý số liệu:

  • Phương pháp thống kê mô tả: Tổng hợp, so sánh chuỗi số liệu, lập bảng chéo và phân tổ theo giới tính chủ hộ, dân tộc, nhóm tuổi, trình độ học vấn, nhóm thu nhập, khu vực thành thị - nông thôn và vùng kinh tế.
  • Mô hình hồi quy dữ liệu mảng (Panel Data): Áp dụng phương pháp ước lượng tác động cố định (FE) và tác động ngẫu nhiên (RE) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tổng chi tiêu giáo dục của hộ gia đình.
  • Mô hình hồi quy số liệu mảng đa mức (Multilevel Panel Data Model): Sử dụng để phân tích chi tiêu giáo dục phổ thông (GDPT), xử lý cấu trúc phân tầng tự nhiên của số liệu (hộ gia đình lồng trong cụm địa phương), tính toán sai số chuẩn theo nhóm và hệ số tương quan trong nhóm (ICC), cho phép ước lượng cả tác động cố định và tác động ngẫu nhiên trên dữ liệu không cân bằng.
  • Mô hình Tobit số liệu mảng (Panel Tobit Model): Phân tích chi tiêu giáo dục đại học (GDĐH), xử lý triệt để hiện tượng biến phụ thuộc bị kiểm duyệt tại điểm 0 (do nhiều hộ không có người học đại học), từ đó ước lượng tác động biên (marginal effects) cho toàn bộ mẫu cũng như phân tách thành thị và nông thôn.
  • Mô hình dữ liệu mảng cấp tỉnh: Đánh giá tác động của chi tiêu giáo dục hộ gia đình (học thêm, học phí, chi khác), chi ngân sách nhà nước, các biến cơ sở vật chất (số trường, số lớp) và đội ngũ giáo viên đến tỷ lệ đi học cấp tỉnh.

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm: Bộ số liệu Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) các năm 2004, 2006, 2008, 2010, 2012, 2014, 2016 của Tổng cục Thống kê (GSO); và số liệu thứ cấp từ Niên giám Thống kê Việt Nam các năm 2012, 2014, 2016. Quy ước mã hóa các biến số phân loại trong mô hình:

  • Giới tính chủ hộ: Nam = 1, Nữ = 0.
  • Dân tộc chủ hộ: Kinh = 1, Dân tộc khác = 0.
  • Nơi sinh sống: Thành thị = 1, Nông thôn = 0.
  • Trình độ học vấn của chủ hộ: 0 = Chưa có bằng cấp; 1 = Tốt nghiệp Tiểu học; 2 = Tốt nghiệp THCS; 3 = Tốt nghiệp THPT; 4 = Tốt nghiệp Cao đẳng trở lên.
Tên mô hình kinh tế lượng Biến phụ thuộc Đơn vị quan sát & Cấu trúc dữ liệu Phương pháp ước lượng chính Mục đích phân tích
Mô hình số liệu mảng tổng quát Logarit tổng chi tiêu giáo dục hộ gia đình Hộ gia đình (VHLSS 2010 - 2014, chéo 2016) Hồi quy mảng FE / RE, OLS gộp Xác định tác động của đặc điểm chủ hộ và kinh tế hộ
Mô hình mảng đa mức (Multilevel) Chi tiêu giáo dục phổ thông (GDPT) Hộ gia đình lồng trong cụm xã/huyện/tỉnh Hồi quy đa mức (ước lượng tác động cố định & ngẫu nhiên) Kiểm soát tương quan nhóm (ICC) và cấu trúc phân tầng
Mô hình Tobit số liệu mảng Chi tiêu giáo dục đại học, cao đẳng (GDĐH) Hộ gia đình (nhiều quan sát bằng 0) Hồi quy Tobit mảng, tính tác động biên (Marginal effects) Giải quyết biến bị kiểm duyệt, so sánh biên thành thị - nông thôn
Mô hình mảng cấp tỉnh Tỷ lệ đi học các cấp (Tiểu học, THCS, THPT) 63 tỉnh/thành phố (VHLSS kết hợp Niên giám 2012 - 2016) Hồi quy dữ liệu mảng cấp tỉnh Đo lường tác động của học phí, học thêm, ngân sách công và trường lớp

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm liên quan. Tác giả luận giải nội dung lý thuyết vốn con người (Becker, Schultz, Mincer), phân tích vốn con người qua ba thành phần cấu thành và cơ chế chuyển giao lợi ích liên thế hệ theo mô hình ba giai đoạn đời người của Yueh (2001). Luận án cũng trình bày chi tiết lý thuyết hàm sản xuất hộ gia đình (Behrman, Pollak, Taubman, Kutty), luận giải cách thức hộ gia đình ra quyết định lựa chọn tiêu dùng giáo dục dưới sự chi phối của sở thích, quyền thương lượng và ràng buộc ngân sách. Phần tổng quan tài liệu phân tích hệ thống các công trình quốc tế (Hashimoto và Heath, Ngwilizi, Awudu và Ogundari, Knight và Shi, Tsui và Rich, Li và Min, Yueh, Meng Zhao và Glewwe, Tansel, Mariara và Kirii, Al-Samarrai và Reilly, Owen và Nerman) và các nghiên cứu tại Việt Nam (Glewwe và Patrinos, Dương, Huy Vu Quang, Trần Thanh Sơn, Đào Thị Yến Nhi, Khổng Tiến Dũng và cộng sự, Behrman và Knowles, Glewwe). Qua đó, chương xác lập danh mục các nhóm nhân tố tiềm năng tác động lên chi tiêu giáo dục bao gồm đặc điểm nhân khẩu của chủ hộ, đặc điểm hộ gia đình, điều kiện kinh tế hộ và các biến số cung ứng dịch vụ giáo dục ở cấp địa phương.

Chương 2: Mô hình phân tích

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở toán học, khung phân tích lý thuyết và thiết lập các mô hình kinh tế lượng thực nghiệm:

  • Khung lý thuyết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục: Biểu diễn mối quan hệ giữa hàm chi tiêu giáo dục của hộ với các nhóm biến độc lập: đặc điểm cá nhân chủ hộ (giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, dân tộc, nghề nghiệp, học vấn), đặc điểm hộ (quy mô hộ, số con đi học các cấp, nơi sống thành thị/nông thôn, vùng miền, trợ cấp giáo dục) và nguồn lực kinh tế (tổng chi tiêu/thu nhập hộ gia đình).
  • Khung lý thuyết phân tích tác động đến tỷ lệ đi học: Biểu diễn mối liên hệ giữa tỷ lệ học sinh nhập học các cấp tại địa phương với các biến số chi tiêu giáo dục của hộ (chi phí học phí, chi phí học thêm, chi phí khác), chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, các biến mức cung trường lớp (số trường học, số phòng học kiên cố), nhân lực giáo dục (số lượng giáo viên các cấp) và biến kinh tế địa phương (thu nhập bình quân đầu người).
  • Thiết lập phương trình kinh tế lượng: Thiết lập phương trình hồi quy dữ liệu mảng tổng quát; phương trình hồi quy đa mức kiểm soát hiệu ứng ngẫu nhiên giữa các cụm đối với chi tiêu GDPT; phương trình Tobit số liệu mảng với biến phụ thuộc bị kiểm duyệt ở mức 0 đối với chi tiêu GDĐH kèm công thức tính toán tác động biên; và hệ phương trình mảng cấp tỉnh ước lượng tỷ lệ đi học các cấp học.

Chương 3: Thực trạng chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích thống kê mô tả dựa trên số liệu VHLSS giai đoạn 2004 - 2016:

  • Tỷ lệ số hộ có trẻ em đang đi học: Tỷ lệ các hộ gia đình có ít nhất một trẻ em đang đi học tại Việt Nam duy trì ở mức cao qua các năm. Mức chi tiêu bình quân của nhóm hộ có trẻ đi học luôn cao hơn đáng kể so với nhóm hộ không có trẻ em đi học.
  • Chi tiêu giáo dục theo đặc trưng kinh tế - xã hội:
    • Khu vực cư trú: Tồn tại khoảng cách chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn. Hộ gia đình ở thành thị luôn có tổng mức chi tiêu và mức chi bình quân cho mỗi người đi học cao hơn nhiều lần so với hộ gia đình ở nông thôn trong suốt giai đoạn 2004 - 2016.
    • Trình độ học vấn của chủ hộ: Mức chi tiêu giáo dục gia tăng tương ứng theo bậc học vấn của chủ hộ. Những hộ có chủ hộ tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên có mức chi tiêu cho việc học của con cái vượt trội so với các nhóm chủ hộ có bằng cấp thấp hơn hoặc chưa có bằng cấp.
    • Dân tộc: Hộ gia đình có chủ hộ là người Kinh có mức chi tiêu giáo dục cao hơn rõ rệt so với các hộ thuộc các dân tộc thiểu số khác.
    • Nhóm thu nhập và vùng miền: Phân hóa chi tiêu thể hiện sâu sắc giữa các ngũ phân vị thu nhập; nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất (nhóm 5) chi tiêu cho giáo dục cao gấp nhiều lần nhóm 20% nghèo nhất (nhóm 1). Về địa lý, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng là hai vùng có mức chi tiêu giáo dục bình quân hộ cao nhất cả nước, trong khi Trung du và miền núi phía Bắc cùng Tây Nguyên có mức chi thấp nhất.
  • Chi tiêu theo bậc học và cấu phần khoản chi: Chi tiêu cho GDPT chiếm tỷ trọng lớn về số lượng hộ phát sinh, nhưng chi tiêu GDĐH tạo áp lực tài chính rất nặng nề đối với ngân sách gia đình khi có con em theo học. Trong cơ cấu các khoản chi, bên cạnh học phí chính khóa, chi phí học thêm và các khoản đóng góp hỗ trợ trường lớp chiếm tỷ lệ đáng kể và có xu hướng tăng nhanh trong giai đoạn 2004 - 2016.

Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Việt Nam và tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ học sinh nhập học cấp tỉnh

Chương 4 công bố kết quả ước lượng thực nghiệm từ các mô hình kinh tế lượng:

  • Các yếu tố ảnh hưởng đến tổng chi tiêu giáo dục: Kết quả hồi quy dữ liệu mảng (ước lượng FE và RE) cho thấy tổng chi tiêu của hộ (biến đại diện cho mức sống/thu nhập), trình độ học vấn của chủ hộ và số lượng thành viên đang đi học có tác động dương có ý nghĩa thống kê đến tổng chi tiêu giáo dục. Chủ hộ là dân tộc Kinh chi tiêu cho giáo dục cao hơn hộ dân tộc thiểu số.
  • Phân tích chi tiêu giáo dục phổ thông bằng mô hình đa mức: Kết quả tính toán hệ số tương quan trong nhóm (ICC) và sai số chuẩn theo nhóm xác nhận có sự khác biệt ngẫu nhiên có ý nghĩa giữa các cụm địa phương. Mô hình hồi quy mảng đa mức chỉ ra rằng ngoài các yếu tố nội tại của hộ (học vấn chủ hộ, thu nhập, quy mô hộ), các đặc điểm phân tầng không gian cũng đóng vai trò quyết định mức độ đầu tư cho giáo dục phổ thông.
  • Phân tích chi tiêu giáo dục đại học bằng mô hình Tobit số liệu mảng: Kết quả kiểm định mô hình Tobit dữ liệu mảng khẳng định việc xử lý kiểm duyệt tại điểm 0 là cần thiết. Ước lượng tác động biên cho thấy thu nhập hộ và trình độ học vấn của chủ hộ là hai rào cản quyết định xác suất tham gia và mức chi tiêu cho giáo dục đại học. So sánh tác động biên giữa hai khu vực cho thấy tác động của thu nhập và trình độ chủ hộ tại khu vực thành thị có độ nhạy biên cao hơn đáng kể so với khu vực nông thôn.
  • Tác động của chi tiêu giáo dục đến tỷ lệ đi học cấp tỉnh: Ước lượng mô hình dữ liệu mảng cấp tỉnh chỉ ra rằng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và các khoản chi của hộ gia đình (bao gồm chi phí học thêm, học phí, chi phí khác) có mối quan hệ đồng biến có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ nhập học ở các cấp. Bên cạnh đó, các biến đại diện cho cơ sở vật chất (số lượng trường học, phòng học) và nhân lực (số lượng giáo viên các cấp) cùng mức thu nhập bình quân cấp tỉnh tác động tích cực đến việc gia tăng tỷ lệ học sinh đến trường.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được các kết quả khoa học và đóng góp mới cụ thể sau:

  1. Đóng góp về mặt lý luận: Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về lý thuyết vốn con người và lý thuyết hàm sản xuất hộ gia đình áp dụng cho việc phân tích các chỉ tiêu giáo dục trong điều kiện kinh tế đang phát triển của Việt Nam. Xây dựng được khung phân tích lý thuyết liên kết đa chiều giữa các đặc trưng nhân khẩu học của chủ hộ, năng lực kinh tế của gia đình với hành vi chi tiêu giáo dục (tổng thể, GDPT, GDĐH) và tác động tổng hợp của các nguồn lực tài chính (tư nhân và ngân sách nhà nước) đến tỷ lệ đến trường.
  2. Đóng góp về mặt phương pháp luận: Ứng dụng đồng thời các kỹ thuật kinh tế lượng hiện đại trên dữ liệu mảng vi mô quy mô lớn của VHLSS. Luận án đã khai thác cấu trúc dữ liệu lồng ghép phân tầng bằng mô hình hồi quy số liệu mảng đa mức để nghiên cứu chi tiêu GDPT; đồng thời áp dụng mô hình Tobit số liệu mảng kèm theo tính toán tác động biên nhằm xử lý hiện tượng biến phụ thuộc bị kiểm duyệt ở mức 0 đối với chi tiêu GDĐH.
  3. Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết về thực trạng chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Việt Nam trong 12 năm (2004 - 2016), chỉ rõ sự phân hóa sâu sắc theo nhóm thu nhập, khu vực thành thị - nông thôn, bằng cấp chủ hộ và vùng địa lý.
    • Làm rõ cơ chế tác động của các nhân tố vi mô: Thu nhập hộ gia đình và học vấn chủ hộ là các nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ chi tiêu giáo dục, trong đó mức độ nhạy cảm biên tại thành thị cao hơn nông thôn; học sinh là người dân tộc thiểu số và hộ gia đình nông thôn chịu nhiều bất lợi trong đầu tư học tập lên các bậc học cao.
    • Khẳng định vai trò thực chứng của cả chi tiêu công (ngân sách nhà nước) lẫn chi tiêu tư nhân (học phí, học thêm, chi phí hỗ trợ), cùng với điều kiện cơ sở trường lớp và số lượng giáo viên, trong việc nâng cao tỷ lệ học sinh nhập học cấp tỉnh.

Các khuyến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Về chính sách hỗ trợ tài chính và học bổng: Nhà nước cần thiết kế các chương trình trợ cấp giáo dục, mở rộng quy mô tín dụng ưu đãi học sinh - sinh viên tập trung vào các hộ gia đình nông thôn, vùng sâu vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số nhằm gỡ bỏ rào cản chi phí khi tiếp cận giáo dục đại học và các cấp học cao.
  • Về quản lý hoạt động dạy thêm, học thêm: Cần có cơ chế quản lý, điều tiết hợp lý tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan nhằm hạn chế gánh nặng tài chính phát sinh ngoài học phí chính khóa, góp phần giảm bớt bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục cho học sinh nghèo.
  • Về phân bổ ngân sách và đầu tư cơ sở vật chất: Kết hợp hài hòa giữa chi ngân sách nhà nước cho giáo dục với việc đầu tư kiên cố hóa trường lớp, bổ sung trang thiết bị dạy học và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên ở những địa phương có tỷ lệ đi học còn thấp, đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của hệ thống giáo dục quốc dân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án chỉ ra một số điểm xuất phát từ đặc tính của nguồn dữ liệu thứ cấp:

  • Dữ liệu khảo sát VHLSS và Niên giám Thống kê chưa thu thập đầy đủ các biến số đo lường chi tiết về chất lượng giáo dục thực tế tại từng cơ sở trường học (như năng lực sư phạm cụ thể của giáo viên, trang thiết bị chuyên sâu từng bộ môn) cũng như năng lực học tập cá nhân ban đầu của học sinh.
  • Mẫu số liệu mảng hộ gia đình dùng trong hồi quy kinh tế lượng chuyên sâu tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2010 - 2014 và số liệu cắt ngang năm 2016, chưa bao quát được các biến động chính sách trong những năm tiếp theo.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi phân tích bằng cách cập nhật chuỗi dữ liệu mảng VHLSS các kỳ điều tra mới nhất nhằm theo dõi sự dịch chuyển trong hành vi chi tiêu giáo dục của hộ gia đình.
  • Nghiên cứu kết hợp các chỉ tiêu đo lường kết quả đầu ra của giáo dục (như điểm số thi chuẩn hóa, tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp) với chi phí giáo dục.
  • Áp dụng các mô hình kinh tế lượng nâng cao để kiểm soát tốt hơn vấn đề nội sinh tiềm ẩn giữa chi tiêu giáo dục và kết quả học tập hoặc thu nhập hộ gia đình.

Giá trị tham khảo

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo cụ thể đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Toán kinh tế, Kinh tế học, Kinh tế phát triển: Luận án cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình ứng dụng mô hình số liệu mảng đa mức (Multilevel Panel) và mô hình Tobit số liệu mảng trên phần mềm Stata 14, cũng như kỹ thuật trích xuất, ghép nối và xử lý dữ liệu vi mô từ các bộ số liệu khảo sát mức sống hộ gia đình (VHLSS) qua nhiều năm.
  • Các nhà hoạch định chính sách giáo dục và cơ quan quản lý (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân và Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh, thành phố): Luận án cung cấp các bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về cơ cấu chi tiêu giáo dục hộ gia đình, mức độ phân hóa cơ hội giáo dục theo điều kiện kinh tế - xã hội, tác động của học phí và học thêm, cùng mối tương quan giữa chi tiêu công và tỷ lệ huy động học sinh đến trường, làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách học phí, chính sách tín dụng giáo dục và phân bổ nguồn lực ngân sách địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao tác giả sử dụng mô hình Tobit số liệu mảng để phân tích chi tiêu cho giáo dục đại học của hộ gia đình?

Trong các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình, không phải hộ gia đình nào cũng có thành viên đang theo học ở bậc đại học hoặc cao đẳng tại thời điểm khảo sát. Điều này dẫn đến việc biến phụ thuộc (chi tiêu giáo dục đại học) nhận giá trị bằng 0 ở rất nhiều quan sát (hiện tượng dữ liệu bị kiểm duyệt tại điểm 0). Nếu áp dụng phương pháp bình phương tối thiểu nhỏ nhất (OLS) thông thường trên toàn bộ mẫu hoặc chỉ ước lượng trên mẫu các hộ có chi tiêu dương, các ước lượng thu được sẽ bị chệch và không nhất quán. Mô hình Tobit số liệu mảng giải quyết triệt để vấn đề kiểm duyệt này, cho phép ước lượng chính xác các hệ số và tính toán tác động biên của các biến độc lập đối với cả xác suất tham gia chi tiêu lẫn mức chi tiêu thực tế.

2. Sự khác biệt cơ bản về phương pháp tiếp cận giữa phân tích chi tiêu giáo dục phổ thông và giáo dục đại học trong luận án là gì?

Đối với giáo dục phổ thông (GDPT), do tính chất phổ cập, hầu hết các hộ gia đình có con trong độ tuổi đều cho con đến trường và phát sinh chi tiêu, đồng thời số liệu hộ gia đình có tính chất lồng ghép tự nhiên theo phân tầng địa lý (hộ gia đình nằm trong xã, huyện, tỉnh). Do đó, luận án sử dụng mô hình số liệu mảng đa mức để kiểm soát sự tương quan ngẫu nhiên giữa các cụm. Ngược lại, đối với giáo dục đại học (GDĐH), việc theo học là sự lựa chọn đầu tư mang tính cá nhân và tỷ lệ hộ phát sinh chi tiêu chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nhiều, dẫn đến mẫu số liệu bị kiểm duyệt tại giá trị 0. Do đó, luận án tiếp cận bằng mô hình Tobit số liệu mảng để xử lý đặc thù dữ liệu này.

3. Bộ số liệu khảo sát mức sống hộ gia đình (VHLSS) được tác giả khai thác như thế nào qua các chương?

Dữ liệu VHLSS của Tổng cục Thống kê được khai thác linh hoạt tùy theo mục tiêu của từng chương:

  • Tại Chương 3, tác giả sử dụng dữ liệu cắt ngang qua 7 cuộc điều tra liên tiếp từ năm 2004 đến năm 2016 (2004, 2006, 2008, 2010, 2012, 2014, 2016) để phân tích thống kê mô tả thực trạng chi tiêu giáo dục và xu hướng biến động theo thời gian.
  • Tại Chương 4, đối với các mô hình kinh tế lượng vi mô, tác giả thiết lập bộ dữ liệu mảng từ các cuộc điều tra VHLSS các năm 2010, 2012, 2014 và bổ sung số liệu năm 2016 để ước lượng các mô hình hồi quy mảng, hồi quy đa mức và hồi quy Tobit. Đồng thời, tác giả tổng hợp số liệu cấp tỉnh từ VHLSS kết hợp với số liệu Niên giám Thống kê các năm 2012, 2014, 2016 để xây dựng mô hình dữ liệu mảng cấp tỉnh phân tích tỷ lệ đi học.

4. Quy ước mã hóa các biến số định tính chính trong mô hình nghiên cứu của luận án được thực hiện ra sao?

Tác giả đã chuẩn hóa và tái mã hóa một số biến số từ bộ dữ liệu gốc VHLSS để phục vụ việc ước lượng:

  • Giới tính chủ hộ: Mã hóa thành biến nhị phân với Nam = 1 và Nữ = 0 (dữ liệu gốc quy ước Nam = 1, Nữ = 2).
  • Dân tộc của chủ hộ: Mã hóa thành biến nhị phân với Dân tộc Kinh = 1 và Dân tộc khác = 0.
  • Nơi sinh sống của hộ: Mã hóa thành biến nhị phân với Thành thị = 1 và Nông thôn = 0 (dữ liệu gốc quy ước Thành thị = 1, Nông thôn = 2).
  • Trình độ học vấn của chủ hộ: Mã hóa theo thang thứ bậc gồm 5 mức: 0 = Chưa có bằng cấp; 1 = Tốt nghiệp Tiểu học; 2 = Tốt nghiệp THCS; 3 = Tốt nghiệp THPT; 4 = Tốt nghiệp Cao đẳng trở lên.

5. Khoản chi tiêu giáo dục nào ngoài học phí chính khóa được luận án đặc biệt phân tích và ghi nhận ảnh hưởng lớn?

Bên cạnh học phí nộp trực tiếp cho cơ sở giáo dục, luận án phân tích bóc tách các khoản chi: chi phí học thêm, các khoản đóng góp bắt buộc/tự nguyện cho nhà trường, và chi phí mua sắm đồ dùng học tập, sách giáo khoa, đồng phục. Kết quả phân tích chỉ ra rằng chi phí học thêm và các khoản đóng góp trường lớp chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi tiêu giáo dục của hộ gia đình và gia tăng liên tục qua các năm. Trong mô hình cấp tỉnh, khoản chi cho học thêm cùng với học phí và chi phí khác có tác động đồng biến có ý nghĩa thống kê đối với tỷ lệ nhập học, cho thấy chi phí phụ trợ này đang là một phần thực tế trong tổng mức đầu tư giáo dục của người dân.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Các mô hình phân tích một số chỉ tiêu giáo dục Việt Nam" của tác giả Hoàng Thanh Nghị là công trình nghiên cứu định lượng chuyên sâu thuộc chuyên ngành Toán kinh tế, giải quyết thành công bài toán mô hình hóa hành vi chi tiêu giáo dục của hộ gia đình và tác động của chi tiêu giáo dục đến tỷ lệ đi học tại Việt Nam. Thông qua việc vận dụng lý thuyết vốn con người và hàm sản xuất hộ gia đình, luận án đã triển khai đồng bộ các kỹ thuật kinh tế lượng gồm mô hình số liệu mảng đa mức và mô hình Tobit số liệu mảng trên nguồn dữ liệu điều tra mức sống dân cư quy mô quốc gia (VHLSS) từ năm 2004 đến 2016 kết hợp Niên giám Thống kê. Các phát hiện thực nghiệm đã làm rõ sự phân hóa sâu sắc trong chi tiêu giáo dục theo thu nhập, học vấn chủ hộ, dân tộc và khu vực thành thị - nông thôn, đồng thời khẳng định vai trò đồng thời của chi tiêu công và chi tiêu tư nhân đối với tỷ lệ nhập học cấp tỉnh. Kết quả của luận án cung cấp căn cứ khoa học xác thực cho các nhà hoạch định chính sách trong việc hoàn thiện cơ chế tài chính giáo dục, quản lý chi phí phụ trợ và tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục bình đẳng cho các đối tượng khó khăn.