Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Trình bày sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước có liên quan. Các khái niệm về hộ gia đình, chủ hộ, chi tiêu cho giáo dục của hộ. Cơ sở lý thuyết gồm có: giáo dục, chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình, mối quan hệ giữa nguồn lực gia đình và chi tiêu cho giáo dục của hộ, kinh tế học hộ gia đình.
Các nghiên cứu trước có liên quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nội dung của chương tập trung vào việc xác định mô hình nghiên cứu và các biến trong mô hình từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, nguồn dữ liệu và các dữ liệu có liên quan. Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích cụ thể để giải quyết các 3 mục tiêu nghiên cứu đã đề ra cũng được xác định trong chương này. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Nội dung của chương đánh giá sơ lược thực trạng chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình ở Việt Nam.
Kết quả phân tích chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Việt Nam gồm: thống kê mô tả, kiểm tra các giả thuyết của mô hình, phân tích kết quả của mô hình kinh tế lượng. Từ đó, xác định các yếu tố và mức độ tác động của các yếu tố đó đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Việt Nam năm 2014. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Trình bày những kết luận được rút ra từ kết quả phân tích và đưa ra một số gợi ý về chính sách, khuyến nghị nhằm nâng cao vốn con người của Việt Nam. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ trình bày tóm lược các khái niệm về hộ gia đình, chủ hộ, chi tiêu cho giáo dục của hộ.
Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan đến chi tiêu cho giáo dục của hộ.1 Hộ gia đình Hộ gia đình được xem như là một đơn vị thống kê dân số, một tập hợp người có mối quan hệ gắn kết với nhau có lúc người ta đồng nhất nó với khái niệm gia đình. Xét trên ý nghĩa thống kê mỗi con người chỉ có thể thuộc về một và chỉ một hộ gia đình nào đó. Theo báo cáo của Ủy ban châu Âu (2010) về điều tra chi tiêu cho giáo dục cho rằng hộ gia đình cần phải có bốn đặc điểm cơ bản: (1) các thành viên trong hộ có chung địa chỉ thường trú, (2) các thành viên thống nhất trong chia sẻ các loại chi phí cần thiết để đảm bảo cuộc sống, (3) có đóng góp chung phần thu nhập cũng như các loại tài sản tạo thành ngân sách chung của hộ, (4)có sự ràng buộc về mối quan hệ huyết thống hoặc tình cảm giữa các thành viên trong hộ gia đình. Theo quy định của Bộ Luật dân sự (2005) của Việt Nam thì hộ gia đình bao gồm các hành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định.2 Giáo dục Giáo dục theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu.
Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học. Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục. Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học (John,1944).3 Chi tiêu cho giáo dục của hộ Chi tiêu cho giáo dục của hộ được hiểu là số tiền của hộ gia đình dành cho giáo dục của các thành viên trong hộ trong 12 tháng. 5 Theo sổ tay khảo sát mức sống hộ gia đình (2014), chi tiêu cho giáo dục của hộ bao gồm các khoản cơ bản sau: - Các khoản chi cho việc đi học của thành viên có đi học trong 12 tháng qua cho những môn học nhà trường quy định, bao gồm: Học phí; Trái tuyến; Đóng góp cho trường lớp (quỹ xây dựng,…); Quỹ phụ huynh học sinh, quỹ lớp; Quần áo đồng phục và trang phục theo quy định; Sách giáo khoa, sách tham khảo; Dụng cụ học tập khác (Giấy bút, cặp, vở,…); Học thêm cho môn học thuộc chương trình quy định; Chi giáo dục khác (Lệ phí thi, đi lại, trọ, bảo hiểm thân thể học sinh, sinh viên,…).
- Chi phí cho giáo dục đào tạo khác trong 12 tháng qua (các bằng ngoại ngữ, đánh máy tốc ký, cắt tóc làm đầu, trang điểm,…). Theo ủy ban châu Âu (2010), chi phí giáo dục của hộ gia đình thành hai phần: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp, cụ thể như sau: + Chi phí trực tiếp, gồm có: học phí, lệ phí đăng ký các khóa học, phí chăm sóc nhà trẻ, phí học thêm, phí mua sách vở, đồ dùng học tập, phí mua đồng phục. + Chi phí gián tiếp, gồm có: phí di chuyển trong quá trình đi học, phí mua thức ăn và ở lại nôi trú, bán trú, phí mua các đồ dùng học tập để tự học, mua sắm máy tính cá nhân, chi phí quà tặng cho người khác ngoài hộ gia đình vì mục đích học tập.2 Các lý thuyết có liên quan 2.1 Kinh tế học hộ gia đình Một vài nghiên cứu thực nghiệm trước đây đã xem xét cách thức hộ gia đình phân phối các nguồn lực. Becker (1964) đã mở rộng mô hình tân cổ điển về cầu tiêu dùng của gia đình.
Trong mô hình này, hàm hữu dụng được tối đa hóa là hàm hữu dụng chung, theo đó tất cả thành viên trong hộ gia đình ban đầu đều có một mức hữu dụng tối đa như nhau. Thu nhập được phân phối theo phương thức tỷ lệ thay thế biên giữa bất kỳ hai hàng hóa tiêu dùng nào là như nhau đối với từng thành viên. Tất cả các nguồn lực có được của từng thành viên ban đầu được gộp chung lại, sau đó mới tái phân phối cho từng thành viên theo một nguyên tắc chung. Theo mô hình của Becker (1965), sở thích của từng các nhân là sở thích chung của hộ gia đình.
Tuy nhiên, trên thực tế sở thích của từng thành viên có thể khác nhau, hơn nữa, các nguồn lực được 6 phân phối hướng về những hàng hóa cho nên sẽ khác với mong muốn của từng thành viên trong hộ gia đình.2 Mô hình kinh tế của chi tiêu hộ gia đình Houthakker (1957) đã nghiên cứu các mô hình toán kinh tế giữa chi tiêu cho một loại hàng hóa cụ thể và tổng chi tiêu của hộ gia đình. Ban đầu có ba dạng hàm được đưa vào xem xét gồm: tuyến tính, bán logarit và logarit kép. Houthakker (1957) nhận định rằng dạng hàm tuyến tính không phù hợp để phản ánh các mối quan hệ trong chi tiêu và ông đã sử dụng dạng hàm logarit kép được phát triển từ lý thuyết đường cong Engel. Mô hình toán có dạng cụ thể như sau: logYi = αi + βi log X1 + µi log X2 + εi Trong đó Yi là chi tiêu cho nhóm hàng hóa thứ i, X1 là tổng chi tiêu, X2 là số lượng thành viên trong hộ gia đình, εi là sai số, αi βi và µi là các hệ số được ước lượng từ mô hình hồi quy OLS.
Đối với các hệ số hồi quy thì βi và µi chính là hệ số co dãn của tổng chi tiêu và quy mô hộ gia đình khi xem xét trong mối quan hệ với chi tiêu cho nhóm hàng thứ i.3 Mô hình Working’s Engel Kingdon (2005) ước tính đường cong Engel cho mặt hàng giáo dục, sau đó sử dụng các đặc điểm kỹ thuật Working – Leser để cho phép nó phi tuyến tính trong hình dạng của đường cong Engel. Mô hình Working’s Engel được Kingdon (2005) trình bày như sau: si = α +β ln(xi/ni) + µln ni + + ηzi + ui Trong đó: xi là tổng chi tiêu của hộ gia đình i, si là ngân sách dành cho giáo dục của hộ gia đình i, ni là quy mô hộ gia đình, zi là một véc tơ của các đặc điểm khác của hộ gia đình như: Đẳng cấp, tôn giáo, trình độ học vấn và nghề nghiệp của chủ hộ, ui là sai số, nij là số lượng thành viên của hộ i phân theo độ tuổi – giới tính j. Trong nghiên cứu của Kingdon (2005) có 7 nhóm tuổi theo phân theo từng giới tính nam và nữ: 0-4, 5-9, 10-14, 15-19, 20-24, 25-60, >60.4 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng Theo Mas-Colell và cộng sự (1995), nguyên tắc tối đa hóa hữu dụng trong lý 7 thuyết hành vi người tiêu dùng phải thỏa mãn hai điều kiện: Tập hợp hàng hóa phải nằm trên đường ngân sách; tập hợp hàng hóa phải mang lại mức hữu dụng cao nhất cho cá nhân. Dựa trên nguyên tắc tối đa hóa hữu dụng, quyết định của hộ gia đình khi lựa chọn hàng hóa là giáo dục dựa trên tối đa hóa sự thỏa mãn trong giới hạn ngân sách.
Qua phương trình, một hộ gia đình tối đa hóa lợi ích trong giới hạn ngân sách: U = f(E, M, θ) s. I= PE E + M Trong đó: E là nhu cầu giáo dục, M là nhu cầu các hàng hóa khác, θ là tham số xác định các hình thức chức năng lợi ích và thị hiếu của hộ gia đình, PE là giá cho giáo dục, giá của hàng hóa khác (PM) bằng 1 không ảnh hưởng đến phương trình. Mô hình tối đa hóa lựa chọn của hộ gia đình với điều kiện ràng buộc đầu tiên: MUE/MUM = PE Sau khi thay thế điều kiện ràng buộc đầu tiên vào phương trình đường ngân sách, mức tiêu thụ tối ưu giáo dục E* là một hàm theo thu nhập I, giá của giáo dục PE và tham số θ: E* = g (I, PE, θ) Khi giá được giả định là ổn định, mức tiêu thụ tối ưu giáo dục E* là một hàm theo thu nhập I và tham số θ: E* = g(I, θ| PE) Cuối cùng, ta xác định chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình EXPE bằng cách nhân giá của giáo dục PE với mức tiêu thụ tối ưu E*.