phần mở đầu, tác giả đã giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày các định nghĩa- khái niệm có liên quan, lý thuyết về vấn đề lựa chọn tiêu dùng và lý thuyết đầu tư giáo dục của hộ gia đình. Các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình cũng được đề cập và tổng hợp ở chương này.1 Các định nghĩa và khái niệm 1.1 Hộ gia đình Hộ gia đình là một tế bào của xã hội, là một trong những đơn vị ảnh hưởng đến các quyết định sản xuất và đầu tư của nền kinh tế. Blow (2004) định nghĩa hộ gia đình có thể chỉ bao gồm một thành viên hoặc gồm nhiều thành viên sống cùng một nhà, sinh hoạt và chia sẻ các công việc nhà.
Các thành viên trong hộ không nhất thiết phải có quan hệ huyết thống. Trong hộ gia đình sẽ có một hoặc nhiều đơn vị thành viên nhỏ, với mỗi đơn vị thành viên nhỏ có thể chỉ gồm một người lớn duy nhất, hoặc một cặp vợ chồng có hoặc không có trẻ em phụ thuộc. Theo điều 106 Bộ luật dân sự (2005) định nghĩa hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định và là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.2 Chủ hộ Tổng cục thống kê (2010) định nghĩa chủ hộ là người có vai trò điều hành, quản lý gia đình, người hiện giữ vị trí chủ yếu, quyết định những công việc chính của hộ. Thông thường thì chủ hộ thường là người có thu nhập cao nhất trong hộ, nắm được toàn bộ các hoạt động kinh tế và nghề nghiệp của các thành viên khác trong hộ.
Trong cuộc khảo sát Mức sống hộ dân cư thì đa số chủ hộ theo khái niệm này trùng với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu, nhưng cũng có trường hợp chủ hộ trong cuộc khảo sát này khác với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu. 6 Chủ hộ theo định nghĩa của Ủy ban Châu Âu (2010) là người mà căn cứ đặc điểm cá nhân của họ, chúng ta có thể phân loại và phân tích các thông tin đại diện cho hộ gia đình mà người đó làm chủ hộ. Chủ hộ có thể là người có thu nhập lớn nhất trong hộ, chủ sở hữu căn nhà hoặc là người đàn ông lớn tuổi nhất trong hộ. Theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam (2005) thì chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ.
Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. Như vậy, xét tổng thể thì chủ hộ là những cá nhân đủ điều kiện cung cấp các thông tin cần thiết về các đặc điểm nhân khẩu học, thu nhập và các hoạt động của hộ gia đình. Vì vậy, các thông tin về chủ hộ có thể được sử dụng đại diện trong các nghiên cứu về hộ gia đình nói chung.3 Chi tiêu giáo dục trung học của hộ gia đình Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình là phần ngân sách của hộ gia đình dùng để trang trải cho việc tham gia các hoạt động giáo dục và đào tạo của các thành viên trong hộ gia đình. Theo Ủy ban Châu Âu (2010) thì Chi tiêu giáo dục phát sinh của các hộ gia đình có thể được phân thành ba loại: chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và chi phí cơ hội.
Chi phí trực tiếp là các chi phí hộ gia đình phải tự chi trả: học phí của học sinh, chi phí cho các nhà cung cấp các khóa học nâng cao tay nghề và kỹ năng, chi phí mua sách vở và đồ dùng học tập, chi phí mua đồng phục, phí học thêm. Chi phí gián tiếp là những khoản chi mở rộng không nằm trong chi phí trực tiếp trong quá trình học. Chúng bao gồm chi phí sinh hoạt cho học sinh, chi phí đi lại, chi phí mua thức ăn và học nội trú- bán trú, chi phí mua đồ dùng học tập để tự học. Chi phí cơ hội được phản ánh qua những công việc hoặc các hoạt động nghỉ ngơi mà học viên phải bỏ qua để dành thời gian cho việc học tập.
Khoản chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình theo Lassible (1994) bao gồm những phần cơ bản như sau: 7 Các khoản chi được quy ước thành tiền mặt: bao gồm học phí phải đóng cho trường học, cơ sở đào tạo; chi cho các loại bảo hiểm, những khoản đóng góp bắt buộc hoặc tự nguyện từ phía phụ huynh. Các khoản chi cho việc mua đồ dùng phục vụ trực tiếp cho học tập như: sách giáo khoa, sách tham khảo, tập vở, máy tính, dụng cụ vẽ; các dụng cụ hỗ trợ khác như: đồng phục, quần áo thể dục, cặp sách, dụng cụ thể thao… Các khoản chi mua các dịch vụ hỗ trợ như: dịch vụ đưa đón di chuyển cho việc đi lại của học sinh hoặc người đưa đón; chi phí cho các bữa ăn tại lớp và nơi ở nội trú, bán trú. Khoản chi tiêu giáo dục trung học chính thức của hộ gia đình bao gồm: học phí, các khoản đóng góp cho trường lớp, quỹ phụ huynh- học sinh, đồng phục, sách giáo khoa và sách tham khảo, dụng cụ học tập, chi phí học thêm và các khoản chi giáo dục khác. Theo cách tính của Tổng cục thống kê (2010), chi giáo dục đào tạo bình quân một người đi học trong 12 tháng qua theo cấp học được tính bằng tổng chi cho việc đi học trong 12 tháng của các thành viên đang đi học trong cấp đó chia cho số người đi học theo từng cấp một.
Như vậy chi tiêu giáo dục trung học bình quân trẻ sẽ bằng tổng chi tiêu giáo dục cho các thành viên đang học trung học của hộ gia đình chia cho số trẻ đang theo học bậc trung học của hộ. Trong đề tài này, chi tiêu giáo dục trung học bình quân trẻ còn được gọi tắt là chi tiêu giáo dục trung học.4 Giáo dục trung học Theo Tổng cục thống kê (2010) thì trung học là bậc học nối tiếp của bậc tiểu học nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân. Bậc trung học được bắt đầu từ lớp 6 và kết thúc ở lớp 12.2 Vấn đề lựa chọn tiêu dùng (Mas-collet và cộng sự, 1995) Lý thuyết tiêu dùng thể hiện những quyết định lựa chọn tiêu dùng mang tính chất duy lý của người tiêu dùng cho các loại hàng hóa. Trong điều kiện ràng buộc về ngân sách hộ gia đình, người tiêu dùng sẽ lựa chọn rổ hàng hóa đảm bảo tối đa hóa mức hữu dụng của mình.
Vấn đề này được thực hiện dựa trên một số giả định cơ bản như thông tin thị trường hoàn hảo, người tiêu dùng là người chấp nhận giá và giá cả hàng hóa có dạng tuyến tính.3 Lý thuyết đầu tư giáo dục của hộ gia đình 1.1 Lý thuyết lợi nhuận đầu tư cho giáo dục Becker (1993) và Schultz (1961) nhận định có sự chênh lệch rõ ràng trong thu nhập của hai đối tượng có trình độ học vấn khác nhau. Từ sự khác biệt trong thu nhập đó, cha mẹ sẽ quyết định cho con cái đi học trong bao nhiêu năm tùy thuộc vào sự tiên đoán về mức thu nhập của con cái họ ở những trình độ khác nhau. Theo đó, lợi nhuận của việc đầu tư vào giáo dục là khoản chênh lệch giữa hiện giá khoản thu nhập trong tương lai trừ đi chi phí của việc đi học (bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội). Điều đó có nghĩa là cha mẹ, như là một nhà đầu tư, sẽ so sánh phần lợi nhuận chênh lệch giữa việc đầu tư và không đầu tư cho trẻ đi học tiếp hay không.
Nếu phần chênh lệch này thu lợi nhuận, họ sẽ tiếp tục đầu tư cho trẻ đi học. Nếu phần đầu tư giáo dục không mang lại lợi nhuận, bố mẹ sẽ không cho trẻ tiếp tục đến trường.2 Mô hình Lý thuyết về lựa chọn số năm đến trường của trẻ Trong nghiên cứu của Glick và Sahn (2000), hộ gia đình được được giả định là một thể thống nhất, nghĩa là hộ gia đình đó sẽ ra quyết định vì mục tiêu tối đa hóa hàm hữu dụng của hộ. Trong đó cha mẹ (hoặc người có vai trò chủ chốt trong hộ gia đình) 9 chính là người đưa ra quyết định bao gồm cả các quyết định về việc giáo dục của trẻ em trong hộ. Giả sử một hộ gia đình bao gồm cha, mẹ, m người con gái và n người con trai.
Cha mẹ được giả định là những người sống qua 2 thời kỳ. Họ làm việc và sinh con trong thời kỳ đầu và nghỉ hưu ở thời kỳ thứ hai. Trong thời kỳ đầu tiên, tiêu dùng của hộ gia đình bằng tổng thu nhập của hộ trừ đi các khoản đầu tư cho giáo dục của con cái. Chính khoản đầu tư cho giáo dục ở thời kỳ thứ nhất này sẽ quyết định thu nhập của bố mẹ ở thời kỳ thứ hai thông qua các khoản chuyển giao trở lại từ chính thu nhập của những đứa trẻ.
Do đó, bố mẹ phải đánh đổi giữa tiêu dùng ở thời kỳ thứ nhất (tương ứng với khoản đầu tư giáo dục cho con cái) với chi tiêu trong thời kỳ thứ hai. Quyết định này của cha mẹ có thể được trình bày qua hàm hữu dụng sau: ( ) (1.2) Trong đó: lần lượt là tiêu dùng của hộ ở thời kỳ thứ nhất và thời kỳ thứ hai; lần lượt là thu nhập của người con gái thứ i và người con trai thứ j. Thu nhập của những người con ở thời kỳ thứ hai còn tùy thuộc vào số năm đi học của chúng ở thời kỳ thứ nhất và các yếu tố khác thuộc về bản thân những người con (Z) như gen di truyền, giới tính, khả năng bản thân… ( ) và ( ) (1.3) Thu nhập của những người con trong thời kỳ thứ hai được tính như sau: và (1.4) Với là trình độ học vấn của người con gái thứ i và người con trai thứ j; và lần lượt là suất sinh lợi từ đầu tư cho giáo dục của người con gái thứ i và người con trai thứ j. Giả thiết đặt ra rằng chi tiêu của bố mẹ ở thời kỳ thứ hai phụ thuộc hoàn toàn vào sự chuyển giao thu nhập của con cái.
Phương trình chi tiêu ở thời kỳ thứ hai như sau: ∑ ∑ (1.5) 10 Trong đó: lần lượt là tỷ lệ chuyển giao thu nhập từ người con gái thứ i và người con trai thứ j.