Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu. Trình bày lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chƣơng này trình bày các khái niệm về hộ gia đình và chi tiêu cho giáo dục, các lý thuyết và nghiên cứu liên quan, các nhân tố ảnh hƣởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình.
Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Chƣơng này trình bày nguồn dữ liệu, chọn mẫu nghiên cứu, phƣơng pháp kết hợp hồi quy OLS, mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu. Chƣơng này trình bày tổng quan về mẫu nghiên cứu, phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến chi tiêu cho giáo dục, thảo luận kết quả nghiên cứu.
Kết luận và hàm ý chính sách. Chƣơng này trình bày những kết quả mà đề tài đạt đƣợc, các hàm ý chính sách nhằm giúp hộ gia đình Việt Nam nâng cao hiệu quả chi tiêu cho giáo dục. 4 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 2.
Hộ gia đình Hộ gia đình đƣợc xem nhƣ là một đơn vị thống kê dân số, một tập hợp ngƣời có mối quan hệ gắn kết với nhau có lúc ngƣời ta đồng nhất nó với khái niệm gia đình. Xét trên ý nghĩa thống kê mỗi con ngƣời chỉ có thể thuộc về một và chỉ một hộ gia đình nào đó. Theo báo cáo của Ủy ban châu Âu (2010) về điều tra chi tiêu cho giáo dục cho rằng hộ gia đình cần phải có bốn đặc điểm cơ bản: (1) các thành viên trong hộ có chung địa chỉ thƣờng trú, (2) các thành viên thống nhất trong chia sẻ các loại chi phí cần thiết để đảm bảo cuộc sống, (3) có đóng góp chung phần thu nhập cũng nhƣ các loại tài sản tạo thành ngân sách chung của hộ, (4)có sự ràng buộc về mối quan hệ huyết thống hoặc tình cảm giữa các thành viên trong hộ gia đình. Theo quy định của Bộ Luật dân sự (2005) của Việt Nam thì hộ gia đình bao gồm các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định.
Khái niệm chủ hộ Theo nghiên cứu của Đào Thị Yến Nhi (2013) thì chủ hộ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Chủ hộ là ngƣời có vai trò điều hành, quản lý gia đình, ngƣời hiện giữ vị trí chủ yếu, quyết định những công việc chính của hộ. Thông thƣờng thì chủ hộ thƣờng là ngƣời có thu nhập cao nhất trong hộ, nắm đƣợc toàn bộ các hoạt động kinh tế và nghề nghiệp của các thành viên khác trong hộ. Trong cuộc khảo sát Mức sống hộ dân cƣ thì đa số chủ hộ theo khái niệm này trùng với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu, nhƣng cũng có trƣờng hợp chủ hộ trong cuộc khảo sát này khác với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu. Chủ hộ theo định nghĩa của Ủy ban Châu Âu (2010) là ngƣời mà căn cứ đặc điểm cá nhân của họ, chúng ta có thể phân loại và phân tích các thông tin đại diện cho hộ gia đình mà ngƣời đó làm chủ hộ.
Chủ hộ có thể là ngƣời có thu nhập lớn nhất trong hộ, chủ sở hữu căn nhà hoặc là ngƣời đàn ông lớn tuổi nhất trong hộ. Theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam (2005) thì chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong 5 các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. Nhƣ vậy, xét tổng thể thì chủ hộ là những cá nhân đủ điều kiện cung cấp các thông tin cần thiết về các đặc điểm nhân khẩu học, thu nhập và các hoạt động của hộ gia đình.
Vì vậy, các thông tin về chủ hộ có thể đƣợc sử dụng đại diện trong các nghiên cứu về hộ gia đình nói chung. Chi tiêu cho giáo dục Chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục đây chính là phần ngân sách của hộ gia đình dùng để phục vụ cho các thành viên trong hộ đƣợc tham gia các hoạt động giáo dục và đào tạo. Theo Lassibille (1994), chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình gồm các phần cơ bản nhƣ sau: Các khoản chi đƣợc quy ƣớc thành tiền mặt: bao gồm học phí phải đóng cho trƣờng học, cơ sở đào tạo; chi cho các loại hình bảo hiểm; những khoản đóng góp bắt buộc hoặc tự nguyện từ phía phụ huynh. Các khoản chi mua những đồ dùng phục vụ trực tiếp cho học tập nhƣ: sách giáo khoa, sách tham khảo, tập vở, máy tính, dụng cụ vẽ; các dụng cụ hỗ trợ khác nhƣ: cặp sách, đồng phục, quần áo thể dục, dụng cụ thể thao.
Các khoản chi mua dịch vụ phụ trợ gồm có: chi phí đƣa đón di chuyển là khoản tiền chi cho việc đi lại của ngƣời học hoặc của ngƣời đƣa đón; chi phí cho các bữa ăn tại lớp và nơi ở nội trú, bán trú: đây là chi phí cần phải đƣợc tính toán nếu ngƣời học tham gia các loại hình nội trú, bán trú hoặc phải đi học xa nhà. Khoản chi trả lãi vay trong trƣờng hợp hộ gia đình phải đi vay tiền để chi cho việc học của các thành viên trong hộ. Theo Ủy ban châu Âu (2010), chi phí giáo dục của hộ gia đình đƣợc chi thành hai phần: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp, cụ thể nhƣ sau: Chi phí trực tiếp, gồm có: học phí, lệ phí đăng ký các khóa học, phí chăm sóc nhà trẻ, phí học thêm, phí mua sách vở, đồ dùng học tập, phí mua đồng phục. Chi phí gián tiếp, gồm có: phí di chuyển trong quá trình đi học, phí mua thức ăn và ở lại nội trú, bán trú, phí mua các đồ dùng học tập để tự học, mua sắm máy tính cá nhân, chi phí quà tặng cho ngƣời khác ngoài hộ gia đình vì mục đích học tập.
CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 2. Lý thuyết về lựa chọn tiêu dùng Theo Mas-Colell và cộng sự 1995, lý thuyết tiêu dùng thể hiện những quyết định lựa chọn tiêu dùng mang tính chất duy lý của ngƣời tiêu dùng cho các loại hàng hóa. Trong điều kiện ràng buộc về ngân sách hộ gia đình, ngƣời tiêu dùng sẽ lựa chọn rổ hàng hóa đảm bảo tối đa hóa mức hữu dụng của mình. Max u (x) với điều kiện p * x I Trong đó, x x1 , x2 ,., xn rổ hàng hóa tiêu dùng và x1 , x2 ,., xn là các loại hàng hóa., pn rổ hàng hóa tiêu dùng và p1 , p2 ,., pn là giá của từng loại hàng hóa.
I : là ngân sách của ngƣời tiêu dùng. Với mức giá p của thị trƣờng và ngân sách I cố định, ngƣời tiêu dùng lựa chọn sử dụng hàng hóa sao cho đạt mức thỏa dụng cao nhất. Vấn đề này đƣợc thực hiện dựa trên một số giả định cơ bản nhƣ thông tin thị trƣờng hoàn hảo, ngƣời tiêu dùng chấp nhận giá và giá của hàng hóa có dạng tuyến tính. Lý thuyết về tác động của thu nhập đến chi tiêu Vào thế kỷ XIX, một nhà thống kê ngƣời Đức, Engel (1821-1896) đã thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm về ngân sách gia đình để đƣa ra kết luận về các mô hình chi tiêu cho tiêu dùng, đó là chi phí cho các hàng hóa và dịch vụ khác nhau của hộ gia đình ở những mức thu nhập khác nhau.
Theo nghiên cứu của Engel, khi thu nhập tăng lên, tỷ trọng của thu nhập chi cho các hàng hóa thiết yếu nhƣ thực phẩm thì giảm và chi cho các hàng hóa xa xỉ nhƣ các hàng hóa và dịch vụ công nghiệp lại tăng. Hay nói cách khác, các gia đình nghèo thƣờng dành tỷ trọng tƣơng đối lớn trong thu nhập của họ cho các nhu cầu cần thiết, trong khi các gia đình giàu lại dành phần lớn thu nhập cho các nhu cầu xa xỉ. Sự thay đổi này trong các mô hình chi tiêu tiêu dùng với sự gia tăng thu nhập của các hộ gia đình đƣợc gọi là quy luận Engel. Lý thuyết về đầu tƣ cho giáo dục Lý thuyết vốn con ngƣời liên quan đến giáo dục nhƣ là một sự đầu tƣ để tối đa hóa chất lƣợng cuộc sống (Schultz, 1961, Becker, 1993).
Việc đầu tƣ thêm vào cho giáo dục sẽ tạo ra lợi ích về mặt nâng cao thu nhập trong tƣơng lai đồng thời đòi hỏi 7 chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội vì không làm việc trong thời gian đi học. Mỗi ngƣời sẽ so sánh những chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội với lợi ích trong tƣơng lai của việc đầu tƣ cho đi học. Việc đầu tƣ sẽ tiếp tục miễn là tỷ lệ biên lợi nhuận cao hơn chi phí bây giờ bỏ ra. Việc đầu tƣ cho giáo dục sẽ tăng theo kỳ vọng lợi nhuận đạt đƣợc trong tƣơng lai và giảm theo chi phí đi học.
Becker (1993) và Schultz (1961) nhận định hai đối tƣợng có học vấn khác nhau thƣờng có những thu nhập khác nhau. Từ sự khác biệt trong thu nhập đó, cha mẹ sẽ có những quyết định cho con cái đi học trong bao nhiêu năm tùy thuộc vào nhận thức của từng cha mẹ đối với thu nhập của con cái họ trong tƣơng lai. Các nhu cầu học tập của trẻ em có thể đƣợc biểu diễn nhƣ là một hàm của tiền lƣơng của các thành viên hộ gia đình, chi phí cho giáo dục, thu nhập hộ gia đình chƣa đƣợc hƣởng và một tập hợp các đặc điểm của trẻ em, gia đình và thị trƣờng lao động địa phƣơng. Các giả định về sự quan tâm của cha mẹ và nguồn vốn có giới hạn tạo ra mối quan hệ giữa trình độ học vấn của cha mẹ và thu nhập của hộ đến việc đầu tƣ giáo dục cho trẻ.
Cha mẹ có học vấn cao sẽ quan tâm nhiều đến phúc lợi của con cái của họ (Becker và Tomes, 1993). Giáo dục của cha mẹ có thể đại diện cho hành vi của họ đối với việc học của trẻ và các yếu tố giáo dục của cha mẹ có thể phản ánh các khoản đầu tƣ cho trẻ em tiểu học. Giáo dục của ngƣời mẹ cũng có thể đại diện cho thu nhập cố định, chi phí cơ hội của cha mẹ trong thị trƣờng lao động và sản xuất của hộ gia đình. Hành vi ra quyết định của hộ gia đình Việc ra các quyết định của hộ gia đình phải chăng chỉ là ý chí của ngƣời đại diện hay còn gọi là chủ hộ?