Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu thuộc ở chương này, vì vi ệc xác định sai từ mục tiêu nghiên cứu cũng sẽ dẫn đến kết quả không mong đợi như lý do chọn đề tài nghiên cứu. Trang: 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết về suất sinh lợi của giáo dục CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SUẤT SINH LỢI CỦA GIÁO DỤC Chương hai, tác giả giới thiệu tổng quan về các nền tảng lý thuyết trước đây đã được các nhà nghiên cứu sử dụng, qua đó sẽ làm cơ sở lập luận cho đề tài nghiên cứu của tác giả. Chương này sẽ trình bày về vốn con người. Vì con người là chủ thể tạo ra của cải vật chất.
Do đó, con người cần phải đầu tư tích ũl y ki ến thức thông qua quá trình học tập để mang lại cho con người một khoản thu nhập theo Mincer (1974). Để tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm thì cần có một mô hình khả thi để có thể đo lường và ước lượng tác động của giáo dục đến thu nhập (lương) của người lao động. Nghiên cứu của tác giả đã sử dụng mô hình hàm thu nhập Mincer (1974) để làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài.1 Giáo dục là gì Giáo dục 3 được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội. Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người giáo dục dưới quan hệ của những tác động sư phạm của nhà trường, chỉ liên quan đến các mặt giáo dục như: trí học, đức học, mĩ dục, thể dục, giáo dục lao động.
Giáo dục là quá trình đư ợc tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi và biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của cả người dạy và người học theo hướng tích cực. Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách cả thầy và trò bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển trong xã hội loài người đương đại.2 Chất lượng giáo dục Từ trước tới nay cụm từ này đã đư ợc đề cập rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong hoạt động chuyên môn của ngành giáo dục và cũng gây tranh cãi nhiều trong dư luận - xã hội. Thế nhưng, hiện nay chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa nào thật hoàn chỉnh. 3 Dân kinh tế, có thể xem tại: http://www.vn/khai-niem-giao-duc-la-gi/, ngày truy cập 18/03/2015 Trang: 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết về suất sinh lợi của giáo dục Theo Tô Bá Trượng 4 (Viện chiến lược và Chương trình giáo d ục) thì cho rằng, chất lượng giáo dục là chất lượng con người được đào tạo từ các hoạt động giáo dục.
Chất lượng ở đây phải được hiểu theo hai mặt của một vấn đề: Cái phẩm chất của con người gắn liền với người đó, còn giá trị của con người thì phải gắn liền với đòi hỏi của xã hội. Theo quan niệm hiện đại, chất lượng giáo dục phải bảo đảm hai thuộc tính cơ bản: tính toàn diện và tính phát triển. Theo Nguyễn Văn Đản (Trường đại học Sư phạm Hà Nội), chất lượng giáo dục là những lợi ích, giá trị mà kết quả học tập đem lại cho cá nhân và xã hội, trước mắt và lâu dài. Khái niệm trên được đúc kết từ nhiều góc độ khác nhau.
Dưới góc độ quản lý chất lượng, thì chất lượng giáo dục là học sinh vừa cần phải nắm được các kiến thức kỹ năng, phương pháp chuẩn mực thái độ sau một quá trình học, đáp ứng được các yêu cầu khi lên lớp, chuyển cấp, vào học nghề hay đi vào cuộc sống lao động.2 Vai trò của giáo dục Giáo dục là một trong những đòn bẩy để góp phần tăng trưởng kinh tế Giáo dục tốt sẽ tạo ra nguồn nhân lực có tri thức dồi dào, có tay nghề cao, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, năng suất lao động sẽ tăng lên và góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế. Đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực hay chính là đầu tư cho giáo dục con người mang lại hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm được việc khai thác, sử dụng các nguồn lực khác. Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy đầu tư vào giáo dục cho phát triển nguồn lực con người mang lại tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định hơn. Mặt khác, hiệu quả đầu tư cho phát triển con người có độ lan tỏa đồng đều, nó mang lại sự công bằng hơn về cơ hội phát triển cũng như việc hưởng thụ các lợi ích của sự phát triển.
Giáo dục giúp xóa đói giảm nghèo và công bằng xã hội Thu nhập của người nghèo chủ yếu dựa vào sức lao động. Thu nhập thấp của người nghèo một phần do lao động của họ kém hiệu quả, một phần do có sự phân biệt đối xử trên thị trường lao động. Giáo dục mang lại kiến thức, quan điểm và kỹ năng giúp người nghèo có một trình đ ộ học vấn nhất định, để xin việc làm có mức lương cao hơn, nhằm cải thiện thu nhập của người nghèo hay nói cách khác là nâng cao năng suất lao động của người nghèo. 4 Chất lượng giáo dục theo cách nhìn của các nhà khoa học.
Có thể xem từ: http://www.vn/mobile/_mobile_khoahoc/_mobile_khoahoakh/item/3037402.html Trang: 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết về suất sinh lợi của giáo dục Giáo dục có tác động tích cực đến đời sống của người nghèo, góp phần giảm đói nghèo, tạo điều kiện cho mỗi cá nhân có thể tham gia vào quá trình xã hội một cách bình đẳng nhờ nâng cao trình độ tay nghề của người lao động. Sự nghèo đói và sự bất công trong xã hội cũng đã làm cho giáo dục kém phát triển. Do đó, biện pháp đặt ra vừa phải tăng cường giáo dục để giảm đói nghèo và bất công xã hội, vừa phải tìm ra các biện pháp để cải thiện đời sống lao động của những người nghèo để giúp họ tham gia vào quá trình học tập có hiệu quả. Giáo dục giảm mức sinh và tăng cường sức khỏe Giáo dục có tác động tích cực đến sức khỏe con người.
Vì giáo dục mang lại sự hiểu biết về khoa học, giúp cho việc ăn ở vệ sinh và sử dụng các biện pháp phòng ngừa bệnh tốt hơn. Nhất là đối với chị em phụ nữ, những kiến thức mà giáo dục đem lại không chỉ giúp họ bình đẳng giới mà còn giúp họ nâng cao được sức khỏe sinh sản của bà mẹ và thai nhi. Nghiên cứu của ngân hàng thế giới cho thấy giữa trình đ ộ học vấn của phụ nữ và số con trong gia đình t ỷ lệ thuận với nhau. Phụ nữ càng được giáo dục càng sinh ít con.3 Thực trạng giáo dục và lao động ở Việt Nam 2.1 Thực trạng giáo dục ở Việt Nam Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, đòi hỏi một nguồn nhân lực trí thức cao để đáp ứng như cầu thị trường trong nước và ngoài nước.
Đứng trước nhiều thách thức phải đổi mới để bắt kịp xu thế phát triển chung của thế giới và tăng trưởng bền vững. Thời gian gần đây Bộ giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo đổi mới, trong đó kỳ thi tuyển sinh Cao đẳng, Đại học năm 2015 là một điển hình. Tuy nhiên, sự đổi mới vẫn gặp nhiều bất cập đã gây tổn thất rất nặng cho học sinh, sinh viên và phụ huynh. Kết quả tuyển sinh năm nay, nhiều học sinh điểm cao nhưng vẫn rớt trong đợt xét tuyển Đại học.
Trong khi, các em trúng tuyển Đại học lại học trái ngành không đúng sở thích. Rõ ràng, nền giáo dục nước ta cần phải xem xét lại việc đổi mới như vấn nạn xét tuyển Đại học, Cao đẳng năm 2015 vừa qua. Giáo dục giúp thay đổi nhận thức của con người. Đứng từ nhiều gốc độ, các nhà nghiên cứu có chuyên môn trong ĩlnh v ực giáo dục đã mạnh mẽ nói lên cách nhìn và suy nghĩ về thực trạng của nền giáo dục nước nhà trước nhiều thâm trầm cần phải cải tiến.
Giáo dục Việt nam không đơn thuần dạy chữ cho người học với mục tiêu xóa mù Trang: 8 Chương 2: Cơ sở lý thuyết về suất sinh lợi của giáo dục chữ hay cung cấp kiến thức cho người học, mà giáo dục Việt Nam còn phải dạy cho người học, học làm người. Dạy cho thanh thiếu niên thế nào là làm người. Giáo sư Đặng Danh Ánh (Viện trưởng Viện nghiên cứu, đào tạo và tư vấn khoa học công nghệ). Ông cho rằng : “Những sai lầm lớn và nổi trội của Giáo dục và đào tạo bị phê phán cách đây 15 năm qua vẫn còn tồn tại đến ngày nay như: nạn dạy thêm, học thêm tràn lan, tổ chức thi cử nặng nề, nội dung và phương pháp dạy lạc hậu, nhồi nhét, chất lượng đào tạo xuống cấp không kiểm soát nổi, những hiện tượng tiêu cực như mua bằng, bán điểm và nguy hiểm hơn là bằng thật mà học giả,… chẳng những không khắc phục được bao nhiêu mà lâu ngày đang biến thành những tình thế khó đảo ngược, những căn bệnh “thâm căn cố đế” khó có phương thuốc chữa trị”.
Ngày nay, nhiều sinh viên học chỉ mong có được tấm bằng. Do đó, trong số họ còn lúng túng khi bư ớc vào đời. Nhiều phụ huynh chán ngán với việc đi thầy, đi cô, bắt buộc cho con học thêm suốt ngày. Trong số ít họ tìm cách cho con ra nư ớc ngoài để học bằng mọi giá.
Hệ thống giáo dục và đào tạo kém linh hoạt với giáo trình giảng dạy chưa chuẩn và chưa xác thực với thực tế. Tình trạng độc quyền sách giáo khoa vẫn còn duy trì. Nhìn chung giáo dục Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức và vấn nạn cần phải khắc phục để đi đúng hướng với xu thế nền phát triển giáo dục của thế giới. Nền giáo dục Việt Nam thời gian tới cần phải mở cuộc tổng điều tra về giáo dục để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục.2 Thực trạng lao động ở Việt Nam Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) vừa công bố bản “Báo cáo thế giới về tình trạng lao động trẻ em”.
Theo đó, gần 170 triệu trẻ vị thành niên không được học hành, buộc phải lao động kiếm sống và sẽ phải đối mặt với cuộc sống bấp bênh do không có việc làm phù hợp và ổn định. Báo cáo cũng ch ỉ ra rằng tại các quốc gia có thu nhập thấp, số lượng lao động trẻ em chiếm khoảng 20% đến 30%, trong đó số trẻ em ở độ tuổi 15 chiếm đa số, thậm chí nhỏ hơn 15 tuổi.