Chương 1 sẽ giới thiệu tổng quan về lý thuyết vốn con người, mô hình học vấn, mô hình tín hiệu thị trường lao động và hàm thu nhập Mincer cho phép ước lượng được hiệu quả của giáo dục và kinh nghiệm bằng phương pháp hồi qui kinh tế lượng cho Việt Nam và quốc tế. 5 Chƣơng 3: Phƣơng pháp thực hiện nghiên cứu: Chương này trình bày phương pháp chọn mẫu và cách thức tính toán các biến giải thích và xây dựng các mô hình hồi quy và các bước thực hiện nghiên cứu. Chƣơng 4: Thực trạng thu nhập và giáo dục ở Việt Nam năm 2010. Chương này sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh diễn dịch để khảo sát mức sống, tình trạng đi học, việc làm, mức tăng tiền lương khi trình độ học vấn tăng thêm của người lao động cả nước năm 2010.
Chƣơng 5: Ƣớc lƣợng suất sinh lợi của giáo dục Việt Nam. Hồi qui hàm thu nhập Mincer để ước lượng suất sinh lợi của giáo dục ở Việt Nam năm 2010. Chương này sẽ trình bày kết quả nghiên cứu ước lượng các hệ số, khi hồi qui với hàm thu nhập Mincer bao gồm cả việc xét đến các tính chất quan sát. Chƣơng 6: Kết luận : Từ các phân tích ở chương 4 và kết quả đo lường được ở chương 5, tác giả đưa ra kết luận và đề xuất nghiên cứu tiếp theo.
6 CHƢƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN Chương 2 giới thiệu tổng quan về những nền tảng lý thuyết được sử dụng làm cơ sở lập luận cho đề tài. Con người là chủ thể chính của lao động sản xuất nên các yếu tố trình độ và kĩ năng của người lao động với hoạt động sản xuất là lĩnh vực nghiên cứu có nhiều thành tựu của kinh tế học. Do đó những lý luận cơ bản về đầu tư cho giáo dục đào tạo cho người lao động – Vốn nhân lực - của Adam Smith, Becker sẽ được đề cập trước nhất. Tuy nhiên, quyết định đầu tư cho giáo dục đào tạo là 1 chọn lựa mà người lao động khi quyết định phải cân nhắc giữa lợi ích và chi phí.
Mô hình đi học của Borjas đi vào phân tích khía cạnh này để lý giải khi nào người lao động quyết định đi học thay vì đi làm, vì sao người học vấn tốt có thu nhập cao hơn đồng thời phân tích sự khác biệt về thu nhập có xét đến yếu tố năng lực bẩm sinh của cá nhân. Cũng phân tích quyết định đi học đại học của người lao động như Borjas, Pindyck và Rubinfield xây dựng 1 mô hình lý thuyết khác với tiếp cận theo hướng thông tin bất cân xứng. Qua đó các tác giả khẳng định bằng cấp đại học không chỉ mang lại những kiến thức và kĩ năng nhất định cho người lao động mà còn là một chỉ báo, một tín hiệu quan trọng để người tuyển dụng nhận biết người có năng lực tốt và có mức đãi ngộ xứng đáng. Những mô hình lý thuyết cung cấp những kiến giải về tác động của giáo dục đến thu nhập người lao động cũng như giải thích quyết định đi học của người lao động.
Tuy nhiên để tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm cần có 1 mô hình khả thi để có thể tiến hành đo lường và ước lượng tác động của giáo dục với thu nhập. Phần tiếp theo của chương trình bày mô hình Mincer, cơ sở để tiến hành những nghiên cứu định lượng về hiệu quả sinh lợi của giáo dục với chỉ tiêu đo lường là thu nhập của người lao động đồng thời những kết quả nghiên cứu đã có về ảnh hưởng của giáo dục đối với thu nhập của Việt Nam và thế giới.1 Vốn nhân lực Lý thuyết về vốn nhân lực nghiên cứu những sự đầu tư vào con người để gia tăng năng suất lao động của người lao động và là nền tảng để phát triển nhiều lý thuyết kinh tế. Những ý tưởng ban đầu về vốn nhân lực đã được Adam Smith (1776) đề cập khi tranh luận vềkhả năng và vai trò của những cư dân hoặc thành viên của một tổ chức khi cho rằng việc thu nhận những tài năng, bằng cách duy trì kết quả đạt được trong suốt quá trình giáo dục, học tập hoặc thực tập, luôn tốn kém một khoản chi phí thực, khoản chi phí này là vốn cố định và bằng tiền mặt như nguồn vốn có sẵn trong bản thân người lao động. Những tài năng đó sẽ một phần tạo nên sự giàu có của người lao độngcũng như cho tổ chức mà người lao động đang là thành viên.
Sự khéo léo của một người lao động khi được cải thiện có thể được xem xét như một cổ máy hoặc một công cụ thương mại tạo điều kiện thuận lợi và giảm bớt sức lao động, và tài năng đó, mặc dù tốn kém một khoản chi phí nhất định nhưng bù lại cho khoản chi phí đó là một khoản lợi nhuận. Vốn nhân lực được xem như là 1 yếu tố của sản xuất, tương tự như lao động và vốn vật chất. Từ thời điểm đó, vốn nhân lực tiếp tục được nghiên cứu và tranh luận, đạt được nhiều thành tựu lớn trong thập niên 50, 60 của thế kỉ 20 với các công trình của Gary Becker và Theodore Schultz. Vốn nhân lực là tổng thể kiến thức, kỹ năng và tŕnh độ chuyên môn mà người lao động tích lũy được mà nhờ đó gia tăng năng suất, hiệu quả công việc.
Khác với vốn vật chất, vốn con người là vốn vô hình gắn với người sở hữu nó, và chỉ được sử dụng khi người chủ của nó tham gia vào quá trình sản xuất. Loại vốn này không thể mang cho vay hay thế chấp như vốn hữu hình. Nó có khả năng tăng lên và tự sinh ra khi sử dụng (liên quan đến kinh nghiệm). Ngoài ra, vốn con người còn có khả năng di chuyển và chia sẻ do vậy không tuân theo qui luật “năng suất biên giảm dần” như vốn vật chất.
Vốn con người cấu thành từ ba nhân tố chính (1) năng lực ban đầu, nhân tố này gắn liền với yếu tố năng khiếu và bẩm sinh ở mỗi người, (2) những kĩ năng và 8 kiến thức được hình thành và tích luỹ thông qua quá trình đào tạo từ trường lớp , (3) các, khả năng chuyên môn, những kinh nghiệm tích luỹ từ quá trình sống và làm việc. Năng lực ban đầu nhận được từ cha mẹ và các điều kiện của gia đình và xã hội khi chăm lo cho bà mẹ mang thai và sinh nở. Cũng giống như vốn hữu hình, để có được nguồn vốn này thì con người phải đầu tư tích luỹ. Lý thuyết vốn con người nhấn mạnh mỗi cá nhân là một nhà đầu tư.
Mỗi cá nhân sẽ đầu tư vào giáo dục để kiếm được lợi ích cao hơn vào những năm sau khi đi học. Sự đầu tư này bao gồm chi phí học tập và chi phí cơ hội do việc mất thu nhập trong ngắn hạn do dành thời gian cho việc học. Người lao động chấp nhận và quyết định đầu tư vì kì vọng sẽ kiếm được thu nhập cao hơn trong tương lai sau khi tích luỹ được kiến thức và kinh nghiệm. Vốn nhân lực có thể được đầu tư bằng nhiều hình thức như giáo dục ở trường lớp, huấn luyện trong quá trình làm việc, huấn luyện bên ngoài công việc.
Khi đi học để có năng lực thì người ta phải bỏ ra chi phí học hành và cuối cùng những trải nghiệm trong cuộc sống và làm việc (Becker, 1975). Hanushek và Wobmann (2007) cho rằng chất lượng giáo dục ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của mỗi cá nhân. Sự khác biệt này có thể được đánh giá thông qua sự khác biệt về thu nhập của người lao động có những cấp độ giáo dục khác nhau. Nếu cá nhân được hưởng điều kiện giáo dục tốt hơn thì có nhiều cơ hội để đạt được mức thu nhập tốt hơn.
Mối quan hệ của giáo dục, vốn con người và sự tăng trưởng kinh tế được Hietala (2005) khái quát thành hình 2. 9 Giáo dục và huấn luyện Vốn con người: - Kiến thức - Kĩ năng - Năng lực Năng suất Lương Hiệu quả làm việc Tuyển dụng Tăng trưởng kinh tế Việc làm Hình: 2.1: Quan hệ giữa giáo dục-đào tạo và phát triển kinh tế Nguồn: Hietala (2005) Khi được giáo dục và huấn luyện hướng nghiệp tốt, vốn con người (kiến thức, kĩ năng, năng lực) gia tăng. Nhờ đó năng suất và hiệu quả làm việc của người lao động được cải thiện và nâng cao. Người lao động được trả lương cao hơn và có nhiều cơ hội tuyển dụng hơn.
Nền kinh tế tạo ra thêm nhiều sản phẩm và vận hành hiệu quả hơn nên góp phần vào sự tăng trưởng và giải quyết vấn đề việc làm.2 Giáo dục và thu nhập – Mô hình đi học Giáo dục không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân người đi học và cho cả xã hội thể hiện thông qua người lao động đạt được thu nhập cao hơn khi trình độ học vấn 10 cao hơn và nền kinh tế tăng trưởng hơn. Mức thu nhập người lao động nhận được tuỳ thuộc vào công việc, các kỹ năng và khả năng của người lao động. Ở đây ta xem xét đến khác biệt do trình độ giáo dục của người lao động. Borjas (2005) giải thích vấn đề này bằng mô hình học vấn.
Giả định của mô hình (i). Người lao động đạt đến trình độ chuyên môn tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập, vì vậy giáo dục đào tạo chỉ có giá trị khi làm tăng thu nhập. Năng suất của người lao động không đổi sau khi thôi học nên thu nhập thực (đã loại trừ lạm phát) là không thay đổi trong quãng đời làm việc. Người lao động không nhận được lợi ích nào khác trong quá trình đi học nhưng phải chịu những chi phí khi đi học, vì vậy những doanh nghiệp cần lao động có trình độ học vấn cao sẽ chịu chi trả mức lương cao, được xem là lương đền bù chi phí đào tạo mà người lao động đã bỏ ra khi đi học.
Người lao động có suất chiết khấu r không đổi, không phụ thuộc vào trình độ học vấn. Ta xem xét trường hợp một người tốt nghiệp trung học tham gia vào thị trường lao động vào năm 18 tuổi có thu nhập hàng năm là w0 kể từ lúc anh ta thôi học, đi làm công ăn lương cho tới khi nghỉ hưu, giả sử là 60 tuổi. Nếu quyết định đi học đại học thay vì đi làm ngay, người đó phải bỏ đi w0 thu nhập hàng năm này và phải tốn thêm các khoản chi phí C cho mỗi năm đi học (gồm cả chi phí trực tiếp là tiền bạc và chi phí gián tiếp là thời gian).