Chương 1 "Giới thiệu". Trong chương này trình bày giới thiệu tổng quan của bài nghiên cứu là nêu ra chi tiết các vấn đề của nghiên cứu, mục tiêu của nghiên cứu, câu hỏi của nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2 "Cơ sở lý thuyết". Chương này giới thiệu về lý thuyết cầu hàng hóa, lý thuyết đầu tư giáo dục và lý thuyết hành vi người tiêu dùng, các phương pháp xây dựng hình thành hàm cầu khác nhau của Hicks và Marshall.
Do đó, trong chương này cũng trình bày mô hình kinh tế lượng dùng để phân tích cầu của người tiêu dùng, đồng thời trình bày những nghiên cứu trước có liên quan đến giáo dục. Chương 3 "Phương pháp nghiên cứu". Trong chương này trình bày phương pháp kinh tế lượng được sử dụng cho phân tích hàm cầu giáo dục phổ thông của hộ gia đình ở Việt Nam và trình bày nguồn dữ liệu dùng cho nghiên cứu. Công thức được sử dụng để tính hệ số co giãn và phương pháp ước tính áp dụng cho từng loại mô hình khác nhau sẽ được trình bày chi tiết.
Chương 4 “Phân tích kết quả nghiên cứu”. Trong chương này trình bày các kết quả phân tích thống kê mô tả, kết quả sử dụng kinh tế lượng trong ước lượng hàm cầu, và hệ số co giãn cầu giáo dục phổ thông ở hộ gia đình Việt Nam. 5 Chương 5 “Kết luận và gợi ý chính sách”. Trong chương này trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu của bài luận văn, gợi ý một vài hàm ý chính sách và gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Lý thuyết cầu về hàng hóa Theo Begg và ctg (2005), cầu là đề cập đến số lượng hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng muốn mua và có khả năng thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ đó, trong điều kiện là các yếu tố khác không thay đổi. Mối quan hệ của mức giá và lượng cầu của hàng hóa thì kết quả là có mối quan hệ nghịch biến hoặc được gọi là độ dốc của hàm cầu. Giá của hàng hóa trong thời gian nghiên cứu là mức giá hiện hành.
Ngoài ra, khi yếu tố giá không tác động đến hàm cầu mà là các các biến ngoại sinh khác tác động đến hàm cầu thì sẽ làm cho hàm cầu dịch chuyển (Mankiw, 2008). Do đó, khi phân tích và nghiên cứu mức độ tác động của một nhân tố, giả định rằng là các nhân tố khác còn lại là không thay đổi. Những yếu tố mà các nhà kinh tế đã đề cập có ảnh hưởng đến cầu hàng hóa là: Đầu tiên, là thu nhập của người tiêu dùng. Thu nhập là yếu tố ảnh hưởng có tác động trực tiếp đến quyết định thanh toán cho các sản phẩm của người tiêu dùng.
Từ đó, khi thu nhập của người tiêu dùng là cao hơn thì họ sẽ chi tiêu nhiều cho những sản phẩm và dịch vụ tùy thuộc loại sản phẩm thứ cấp hay sản phẩm thông thường mà họ mong muốn (Begg và ctg, 2005). Thứ hai, là giá của sản phẩm có liên quan. Tuy nhiên, tùy thuộc vào sản phẩm là hàng hóa bổ sung hoặc hàng hóa thay thế. Hàng hóa thay thế là hàng hóa mà người tiêu dùng có thể sử dụng thay thế cho nhau.
Khi giá cả hàng hóa thay đổi, người tiêu dùng có thể chuyển đổi tiêu dùng hàng hóa này thành tiêu dùng hàng hóa khác khi sản phẩm có cùng công dụng. Hàng hóa bổ sung là một cặp hàng hóa được sử dụng cùng nhau để phát huy giá trị sử dụng. Qua đó, trong điều kiện là các yếu tố khác giữ nguyên, cầu đối với sản phẩm đang xem xét sẽ bị giảm khi nhân tố giá của sản phẩm bổ sung cho sản phẩm đang xem xét là tăng và ngược lại. 7 Thứ ba, thị hiếu của người tiêu dùng đối với hàng hóa và dịch vụ.
Được thể hiện qua sự ảnh hưởng của đam mê và thói quen của người tiêu dùng. Thứ tư, sự kỳ vọng của người tiêu dùng trong tương lai. Những dự đoán của người tiêu dùng về diễn biến của thị trường trong tương lai có ảnh hưởng đến cầu hiện tại. Nếu người tiêu dùng có các kỳ vọng về sản phẩm là có lợi trong tương lai thì lượng cầu hiện tại sẽ tăng, đường cầu dịch chuyển sang phải và ngược lại.
Các loại kỳ vọng: kỳ vọng về giá hàng hoá, về thu nhập, về giá cả hàng hoá liên quan, về số lượng người mua hàng. Lý thuyết đầu tư giáo dục Vốn con người Theo Schultz (1963), giáo dục được thể hiện bởi ba vấn đề. Trước hết, giáo dục có ý nghĩa tiêu dùng hiện tại là một mặt hàng hữu ích có được từ việc hiểu thêm kiến thức. Thứ hai, giáo dục mang ý nghĩa tiêu dùng trong tương lai, là khả năng giúp người học sử dụng nhiều hơn các loại hàng hóa khác trong cuộc sống.
Thứ ba, giáo dục là đầu tư. Điều này có nghĩa là cho đến khi năng suất biên của giáo dục bằng với chi phí biên của giáo dục, thì vốn con người từ quá trình đào tạo giáo dục đã được sử dụng. Đây là lý do tại sao các nhà kinh tế học coi giáo dục như một khoản đầu tư vào vốn con người. Theo Schultz (1961), vốn con người được hiểu là kỹ năng và kiến thức của lao động.
Có thể nói, vốn con người được tích lũy qua ba giai đoạn chính: Vốn con người sơ khai (chủ yếu sinh ra hoặc có được ở gia đình), vốn con người có được qua giáo dục chính quy và vốn con người có được thông qua đào tạo tại chức. Vốn con người thay đổi theo thời gian và được phản ánh trong kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của người lao động. Sự khác biệt giữa khái niệm vốn nhân lực và khái niệm nguồn nhân lực được thể hiện là vốn nhân lực dùng để chỉ chất lượng của nhân viên, còn nguồn nhân lực là số lượng lao động. 8 Chi phí giáo dục Chi phí là một khái niệm trong kinh tế học giáo dục và là cơ sở của phân tích chi phí - lợi ích cận biên (Woodhall, 2004).
Có hai loại chi phí cơ bản: chi phí xã hội và chi phí tư nhân. Các chi phí xã hội do các nhà cung cấp giáo dục chi trả bao gồm lương giáo viên, sách thư viện và việc sử dụng cơ sở vật chất. Các chi phí riêng do người học chịu, bao gồm học phí, sách vở, v. Trong hai loại chi phí trên, có hai loại chi phí là chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội được tính bằng tiền tệ.
Chi phí gián tiếp là thời gian mà người dạy và người học dành liên tiếp cho việc giảng dạy. Họ có thể sử dụng thời gian này để kiếm thu nhập từ các công việc khác. Có hai điều cần ghi nhớ: học phí do người học trả và giá trị của cơ sở vật chất. Học phí ở đây có nghĩa là chi phí ròng mà người học bỏ ra sau khi trừ học bổng (nếu có) mà người đó nhận được.
Đối với giá trị sử dụng của cơ sở vật chất, có hai khả năng cần xem xét. Nếu cơ sở được thuê mướn, thì giá trị sử dụng được tính là tiền thuê trong một năm. Nếu cơ sở không được thuê mướn, giá trị khấu hao hàng năm của nó phải được tính đến trong suốt quá trình được sử dụng và được xem là tiền thuê quy đổi. Phân tích cận biên chi phí - lợi ích Phân tích chi phí - lợi ích là một trong những tiêu chí để đưa ra quyết định phù hợp nhất trong các chương trình giáo dục.
Theo Woodhall (2004), khái niệm phân tích chi phí - lợi ích là so sánh một cách có hệ thống chi phí đầu tư và lợi ích để đánh giá lợi ích kinh tế. Trong kinh tế học giáo dục, phân tích lợi ích là nội hàm được sử dụng rộng rãi nhất của khái niệm phân tích chi phí - lợi ích. Quyết định học tập Nguồn: Tổng hợp của tác giả. Khái niệm biên hoặc cận biên được trường phái tân cổ điển đưa vào kinh tế học vào đầu thế kỷ 20, và nó là sự thay đổi trong số lượng cho trước.
Chi phí biên của giáo dục là sự thay đổi trong tổng chi phí của người học để học một đơn vị kiến thức nhất định. Lợi ích cận biên là sự thay đổi trong tổng lợi ích khi người học phải học một đơn vị kiến thức nhất định. Mục đích của phân tích cận biên về chi phí cho giáo dục và lợi ích của giáo dục là để xác định sự lựa chọn tốt nhất khi đầu tư vào vốn con người.1, nếu người học dừng lại ở điểm C, chi phí cận biên MC tại điểm C không bằng lợi ích biên MR tại điểm A, vì vậy lựa chọn này là không tối ưu. Theo nguyên tắc kinh tế, lựa chọn này chỉ là lựa chọn tốt nhất khi MR bằng MC tại điểm B 10 Mô hình đầu tư vốn con người Từ hình 2.2 cho thấy A và B là những điểm mà mỗi cá nhân đưa ra lựa chọn tối ưu về đầu tư vốn con người.
Tại những điểm này, lợi ích biên bằng với chi phí biên. Tùy vào việc tính toán chi phí và lợi ích, người học có thể dừng tại điểm A với trình độ là E1 và đi làm, hoặc điểm B với trình độ là E2 nếu họ thấy rằng tại điểm B họ trở nên cạnh tranh trên thị trường lao động. Theo Checchi (2005) lợi ích biên phụ thuộc vào điều kiện thị trường lao động, các nguồn lực đã đầu tư vào giáo dục và khả năng của người học. Chi phí biên phụ thuộc vào chi phí trực tiếp của việc đi học và có thể phụ thuộc vào khả năng của người học.
Bản chất con người là tư lợi và mong muốn vô hạn, nên về nguyên tắc các cá nhân đều muốn đạt được trình độ học vấn cao nhất. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố có tác động ràng buộc đến người đi học, vì vậy các cá nhân chọn ở những điểm dừng khác nhau dẫn đến trình độ học vấn khác nhau. Sự khác nhau này dẫn đến tiền lương trên thị trường lao động là khác nhau.2 Mô hình đầu tư vốn con người Nguồn: Tổng hợp của tác giả. 11 Lý thuyết vốn con người liên quan đến giáo dục, được coi như một khoản đầu tư để tối đa hóa chất lượng cuộc sống (Schultz, 1961; Becker, 1993).
Về tăng trưởng thu nhập trong tương lai, đầu tư thêm vào giáo dục sẽ tạo ra lợi ích, đồng thời đòi hỏi các chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội vì không làm việc trong thời gian đi học.