BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ----------------------------- BÙI THẾ HUY PHÂN TÍCH SUẤT SINH LỢI CỦA GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM: TIẾP CẬN THEO PHƯƠNG PHÁP “CLUSTERED DATA” LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ----------------------------- BÙI THẾ HUY PHÂN TÍCH SUẤT SINH LỢI CỦA GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM: TIẾP CẬN THEO PHƯƠNG PHÁP “CLUSTERED DATA” Chuyên ngành : Kinh Tế Phát Triển Mã số : 60310105 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN TIẾN KHAI Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2013 LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả phân tích thống kê mô tả, thông tin định tính và định lượng đều do chính cá nhân tôi đưa ra thông qua việc phân tích bộ số liệu VHLSS_2010 do Tổng cục Thống kê khảo sát. Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng và nghiêm túc trên tinh thần tôn trọng tác quyền. Các kết quả nghiên cứu đều là kết quả của việc phân tích, đánh giá, nhận định do cá nhân tôi đưa ra và những nội dung này chưa từng được công bố ở bất kỳ đâu. Bằng danh dự, tôi sẵn sàng chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan trên. Tác giả Bùi Thế Huy 090.com LỜI CẢM ƠN Từ đầu, tôi đã không nghĩ rằng mình có thể hoàn thành luận văn này. Tuy nhiên, với sự ủng hộ về mặt tinh thần và những sự giúp đỡ cần thiết từ quý thầy cô, bạn bè và gia đình, cuối cùng tôi cũng có thể hoàn thành luận văn này trong hạn định nhà trường đề ra. Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến thầy Trần Tiến Khai, người đã tận tình ủng hộ tôi về mặt tinh thần khi tôi không đủ động lực để đi đến cuối chặng đường. Thầy đã định hướng nghiên cứu, hỗ trợ về mặt tài liệu cũng như những hướng dẫn về mặt học thuật, cách thức trình bày khoa học và có những chỉnh sửa quan trọng để tôi có thể hoàn thành bản luận văn một cách khoa học trong khả năng còn hạn chế của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn anh Lê Anh Khang, một người đã từng là đồng nghiệp và là một người đàn anh mà tôi luôn kính trọng. Sự giúp đỡ về mặt tinh thần cùng với những hướng dẫn về mặt khoa học của anh đã giúp tôi vượt qua nhiều giai đoạn khó khăn, khúc mắc trong quá trình hoàn thành luận văn của mình. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân yêu trong gia đình tôi. Để tôi có thể yên tâm và chú tâm vào việc hoàn thành luận văn của mình, những người thân yêu của tôi đã âm thầm gánh bớt, chia sẻ những công việc tuy không tên gọi nhưng tôi biết rằng rất vất vả. Những người thân của tôi luôn luôn là động lực để tôi phấn đấu cho một tương lai tốt đẹp hơn của gia đình. Tôi xin cảm ơn các bạn học, bạn bè thân thiết đã có những động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn của mình. Và, tuy cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Kinh tế Phát triển trường Đại học Kinh tế Tp.HCM vì đã dành nhiều tâm huyết trong việc truyền đạt những kiến thức nền tảng, những hiểu biết về các vấn đề kinh tế đến cho các sinh viên như tôi. Không biết tương lai tôi sẽ ra sao nhưng có một điều tôi có thể chắc chắn rằng những điểm sáng về nhân cách, những hiểu biết sâu sắc về chuyên môn cũng như xã hội của quý thầy cô luôn là tấm gương sáng để tôi soi rọi cuộc đời mình trên hành trình tìm kiếm tri thức, sự hiểu biết cũng như làm người của mình từ đây và mãi mãi về sau. Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2013 Học viên thực hiện Bùi Thế Huy i MỤC LỤC Chương 1: Giới thiệu .2 Mục đích nghiên cứu .3 Phương pháp nghiên cứu .4 Cấu trúc của luận văn . 3 Chương 2: Tổng quan lý thuyết.3 Mô hình thực nghiệm của Mincer .4 Nghiên cứu thực nghiệm. 11 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu .1 Số liệu nghiên cứu .2 Phương pháp “Clustered data” .3 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm . 20 Chương 4: Kết quả nghiên cứu .1 Thống kê mô tả .2 Kết quả hồi quy . 38 Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách .2 Gợi ý chính sách .3 Hạn chế của đề tài . 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO . 49 iii MỤC LỤC HÌNH Hình 2.1: Chi phí và lợi ích của việc học lên cấp giáo dục cao hơn (Theo Todaro và Smith) .2: Mô hình tác động của giáo dục đến thu nhập .1: Phân bổ mẫu theo bậc học.2: Logarit thu nhập hàng tháng theo từng bậc học.3: Logarit của thu nhập hàng tháng theo mức giáo dục.4: Logarit thu nhập hàng tháng theo số năm đi học .5: Logarit của thu nhập hàng tháng theo số năm kinh nghiệm làm việc.6: Tỉ trọng người lao động trong các khu vực làm việc .7: Logarit thu nhập theo khu vực làm việc. 33 iv MỤC LỤC BẢNG Bảng 3.1: Số thành viên trong hộ trước khi xử lý dữ liệu .2: Số thành viên trong hộ sau khi xử lý dữ liệu.3: Dữ liệu ban đầu ở dạng dữ liệu chéo .4: Dữ liệu đã được chuyển sang dạng dữ liệu bảng .5: Các biến sử dụng trong hàm hồi quy.1: Thu nhập trung bình theo bậc học .2: Thu nhập trung bình theo khu vực làm việc .3: Thống kê mô tả (giá trị trung bình) các biến trong hàm hồi quy theo giới tính và khu vực làm việc.4: Thống kê mô tả (giá trị trung bình) theo khu vực địa lý .5: Kết quả hồi quy của logarit thu nhập theo số năm đi học .6: Kết quả hồi quy của logarit thu nhập theo bậc học .7: Suất sinh lợi cho mỗi năm đi học ở từng bậc học . 42 1 Chương 1: Giới thiệu 1.1 Đặt vấn đề Đã từ lâu, các nhà kinh tế học đã cơ bản thống nhất với nhau rằng yếu tố con người đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của các quốc gia. Nguồn vốn nhân lực dồi dào, chất lượng cao chính là yếu tố cốt lõi nhằm góp phần gia tăng tổng sản phẩm quốc gia GNP thông qua việc thúc đẩy sự tăng trưởng của tổng năng suất các yếu tố sản xuất TFP. Trong mô hình phát triển kinh tế của mình, Solow đã chỉ ra các yếu tố tác động đến sự gia tăng tổng sản phẩm quốc gia GNP bao gồm: vốn (K), lao động (L) và tổng năng suất các yếu tố sản xuất (TFP). Trong đó, hai yếu tố vốn (K) và lao động (L) chỉ có thể làm tăng trưởng GNP đến một mức giới hạn nào đó mà thôi. Để nền kinh tế có thể tăng trưởng hơn nữa khi sự đóng góp của hai yếu tố (K) và (L) đã ở mức bão hòa thì ta cần phải gia tăng TFP. Không như K và L, TFP không có giới hạn cho sự tăng trưởng của nó cũng như sự đóng góp của nó trong tăng trưởng của GNP. Vì lẽ đó, việc gia tăng vốn con người, qua đó gián tiếp góp phần vào tăng trưởng GNP thông qua làm gia tăng TFP luôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia. Vì vốn con người chính là khả năng, kiến thức, kinh nghiệm, … của một cá nhân trong quá trình lao động nhằm đem lại của cải vật chất cho mình và cho xã hội nên việc gia tăng vốn con người chỉ có thể được thực hiện chủ yếu thông qua việc nâng cao sức khỏe, giáo dục và đào tạo. Do vậy, bên cạnh sức khỏe, giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng hiểu biết, giải quyết công việc của cá nhân và qua đó sẽ góp phần nâng cao thu nhập của mỗi cá nhân. Nhiều quốc gia trên thế giới luôn đặt giáo dục lên hàng quốc sách và đã dành một nguồn ngân sách đáng kể cho giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia mình. Ở một chừng mực nào đó, nguồn lực (tài chính, nhân lực, …) dành cho giáo dục cũng có thể được xem như một khoản đầu tư của quốc gia. Chính vì vậy đã nảy sinh nhu cầu đánh giá hiệu quả của những khoản đầu tư như 2 thế này. Trong nổ lực để thực hiện việc lượng hóa hiệu quả của việc đầu tư cho giáo dục, vào năm 1974, Mincer đã đề xuất ra một mô hình kinh tế lượng nhằm lượng hóa suất sinh lợi của giáo dục. Từ đó, mô hình này đã được kiểm chứng và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Sử dụng mô hình kinh tế lượng của Mincer, các nhà nghiên cứu đã tính toán được rằng suất sinh lợi trung bình đối với mỗi năm giáo dục tăng thêm vào khoảng 10% (Psacharopoulos, 2004) trên toàn thế giới. Đây rõ ràng là một suất sinh lợi vô cùng hấp dẫn và qua đó khẳng định được tính đúng đắn trong việc đầu tư vào giáo dục của các quốc gia. Ở Việt Nam từ lâu đã có rất nhiều nghiên cứu về suất sinh lợi của giáo dục, đặc biệt là từ sau cuộc khảo sát về mức sống dân cư được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1992 – 1993. Từ đó đến nay, Việt Nam đã thực hiện lần lượt các cuộc điều tra mức sống dân cư vào các năm 1998, 2002, 2004, 2006, 2008, 2010. Moock và các đồng sự (2003) đã tiến hành nghiên cứu của mình trên bộ số liệu 1992-1993 ở Việt Nam đã cho kết quả là suất sinh lợi của mỗi năm học tăng lên đối với thu nhập của cá nhân là 4,8%. Kết quả này là khá thấp so với các nước đang phát triển khác trên toàn thế giới vào giai đoạn đó (suất sinh lợi trung bình là 10% theo nghiên cứu của Psacharopoulos, 1994). Tuy vậy, kết quả này cũng khá phù hợp với những nghiên cứu khác đối với các nền kinh tế tập trung bao cấp như Trung Quốc chẳng hạn. Các nghiên cứu trên các bộ số liệu càng về sau cho kết quả có xu hướng ngày càng tăng. Chẳng hạn trong nghiên cứu của Doan và Gibson (2010) đã cho kết quả suất sinh lợi là 9,5% vào năm 2008. Trong xu hướng đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm xem suất sinh lợi cho mỗi năm giáo dục tăng thêm sẽ là bao nhiêu đối với bộ số liệu khảo sát năm 2010 ở Việt Nam. Từ kết quả đó, tác giả sẽ đưa ra những phân tích, nhận xét và các gợi ý chính sách.2 Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu này nhằm vào 3 mục đích chính: Tính toán suất sinh lợi cho mỗi năm giáo dục.
Tổng quan nghiên cứu
Giáo dục được xem là một trong những yếu tố then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc nâng cao vốn con người và tổng năng suất các yếu tố sản xuất (TFP). Theo mô hình phát triển kinh tế của Solow, tăng trưởng kinh tế không chỉ dựa vào vốn và lao động mà còn phụ thuộc vào TFP, trong đó giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng TFP. Trên thế giới, suất sinh lợi trung bình của mỗi năm học tăng thêm vào khoảng 10%, thể hiện hiệu quả đầu tư giáo dục rất hấp dẫn. Ở Việt Nam, các nghiên cứu trước đây cho thấy suất sinh lợi theo giáo dục có xu hướng tăng qua các năm, từ khoảng 4,8% năm 1992 lên gần 9,5% năm 2008.
Nghiên cứu này nhằm phân tích suất sinh lợi của giáo dục tại Việt Nam dựa trên bộ số liệu khảo sát mức sống dân cư VHLSS 2010, với mục tiêu chính là tính toán suất sinh lợi cho mỗi năm giáo dục, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân đến thu nhập và đề xuất các chính sách phù hợp. Phạm vi nghiên cứu bao gồm 7.308 cá nhân trong độ tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi, thuộc nhóm làm công ăn lương trên toàn quốc. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng chính sách phát triển nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả đầu tư giáo dục, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu dựa trên lý thuyết vốn con người, được Ngân hàng Thế giới định nghĩa là khả năng, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của cá nhân giúp nâng cao hiệu quả lao động. Suất sinh lợi theo giáo dục được hiểu là tỷ lệ phần trăm tăng thu nhập do đầu tư vào giáo dục so với chi phí đầu tư ban đầu. Theo Michael P. Todaro và Stephen C. Smith, giáo dục và sức khỏe là hai yếu tố cấu thành vốn con người, có tác động tương hỗ giúp nâng cao năng suất lao động và thu nhập.
Mô hình kinh tế lượng của Mincer (1974) được sử dụng làm cơ sở phân tích, trong đó logarit thu nhập cá nhân được mô hình hóa phụ thuộc tuyến tính vào số năm học và bậc hai của số năm kinh nghiệm làm việc. Mô hình này cho phép ước lượng suất sinh lợi của mỗi năm học và kinh nghiệm làm việc đối với thu nhập. Ngoài ra, các biến điều khiển như giới tính, dân tộc, khu vực làm việc và khu vực địa lý cũng được đưa vào mô hình để kiểm định ảnh hưởng đa chiều.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu chính là bộ số liệu VHLSS 2010 do Tổng cục Thống kê Việt Nam thu thập, với 7.308 cá nhân làm công ăn lương trong độ tuổi lao động. Dữ liệu được xử lý lọc theo tiêu chí tuổi tác, thu nhập và loại hình lao động. Phương pháp phân tích sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng với kỹ thuật “clustered data” ở mức hộ gia đình nhằm khắc phục hiện tượng tương quan sai số giữa các cá nhân trong cùng một hộ. Mô hình hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effect Model) được áp dụng để ước lượng các hệ số, đảm bảo tính chính xác và phù hợp với cấu trúc dữ liệu không cân đối.
Mô hình hồi quy cơ bản có dạng:
$$ \ln Y_i = \beta_0 + \beta_1 \text{YOSCH}_i + \beta_2 \text{EXP}_i + \beta_3 \text{EXP}_i^2 + \beta_4 \ln \text{HRWRK}_i + \epsilon_i $$
trong đó, $Y_i$ là thu nhập cá nhân, YOSCH là số năm đi học, EXP là số năm kinh nghiệm làm việc, HRWRK là số giờ làm việc trong tuần. Các biến giả về bậc học, giới tính, dân tộc, khu vực làm việc và địa lý cũng được đưa vào mô hình mở rộng để phân tích chi tiết hơn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Suất sinh lợi theo số năm học: Kết quả hồi quy cho thấy mỗi năm học tăng thêm làm tăng thu nhập trung bình khoảng 5,88%, cao hơn mức 4,8% của năm 1992 nhưng thấp hơn mức 8,5% của năm 2008. Điều này phản ánh xu hướng tăng dần suất sinh lợi của giáo dục tại Việt Nam trong gần hai thập kỷ qua.
-
Ảnh hưởng của kinh nghiệm làm việc: Thu nhập tăng theo số năm kinh nghiệm với hệ số dương 0,0388, nhưng tốc độ tăng giảm dần khi số năm kinh nghiệm tăng lên (hệ số bình phương kinh nghiệm âm -0,0008), phù hợp với mô hình parabol ngược của Mincer.
-
Tác động của các yếu tố cá nhân và khu vực: Nam giới có thu nhập cao hơn nữ giới khoảng 23,19%. Người làm việc ở thành thị có thu nhập cao hơn nông thôn 16,24%. Thu nhập của người lao động trong khu vực nước ngoài cao hơn khu vực nhà nước và tư nhân lần lượt 12,88% và 13,55%. Thu nhập trung bình khu vực Đông Nam Bộ cao hơn các vùng khác từ 12,58% đến 26,65%.
-
Suất sinh lợi theo bậc học: Thu nhập của người có bằng tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng – nghề, đại học – sau đại học lần lượt cao hơn người không học là 12,59%; 17,16%; 25,36%; 49,33%; 93,12%. Suất sinh lợi cho mỗi năm học ở từng bậc học tăng dần từ 2,52% (tiểu học) đến 10,95% (đại học trở lên).
Thảo luận kết quả
Kết quả cho thấy giáo dục tiếp tục là khoản đầu tư có hiệu quả cao trong việc nâng cao thu nhập cá nhân tại Việt Nam. Mức suất sinh lợi 5,88% cho mỗi năm học phản ánh sự cải thiện đáng kể so với những năm đầu thập niên 1990, phù hợp với xu hướng toàn cầu và các nghiên cứu trong khu vực. Sự khác biệt thu nhập giữa các khu vực và giới tính phản ánh các bất bình đẳng còn tồn tại, trong đó nữ giới và người lao động ở khu vực tư nhân, nông thôn có thu nhập thấp hơn đáng kể.
Mô hình “clustered data” đã giúp kiểm soát được ảnh hưởng của các yếu tố gia đình, thể hiện qua hệ số tương quan sai số trong hộ gia đình (rho = 0,33), cho thấy các thành viên trong cùng hộ có thu nhập có liên quan chặt chẽ. So sánh với các nghiên cứu trước đây, kết quả này khẳng định tính phù hợp và chính xác của phương pháp nghiên cứu.
Biểu đồ phân bố logarit thu nhập theo số năm học và bậc học minh họa rõ xu hướng tăng thu nhập theo trình độ học vấn, đồng thời biểu đồ thu nhập theo khu vực làm việc cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa các khu vực kinh tế. Các bảng thống kê mô tả cũng cho thấy sự phân bổ hợp lý của mẫu nghiên cứu, đảm bảo tính đại diện.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Tăng cường đầu tư giáo dục đại học và nghề: Khuyến khích người lao động hoàn thành các bậc học cao hơn, đặc biệt là cao đẳng, đại học, nhằm tận dụng suất sinh lợi cao (từ 6,12% đến 10,95% mỗi năm học). Chính phủ và các cơ sở đào tạo cần mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo trong vòng 5 năm tới.
-
Giảm bất bình đẳng giới trong thu nhập: Thực hiện các chính sách hỗ trợ nữ giới như đào tạo kỹ năng, tạo điều kiện tiếp cận việc làm và nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong doanh nghiệp. Mục tiêu giảm khoảng cách thu nhập nam – nữ xuống dưới 10% trong 3 năm.
-
Phát triển việc làm và nâng cao thu nhập khu vực nông thôn: Tăng cường đầu tư phát triển kinh tế nông thôn, hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm nhằm thu hẹp khoảng cách thu nhập với thành thị. Các chương trình này nên được triển khai đồng bộ trong 5 năm tới.
-
Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân nâng cao mức lương: Áp dụng chính sách khuyến khích và kiểm soát để doanh nghiệp tư nhân cải thiện mức lương và phúc lợi, giảm chênh lệch thu nhập so với khu vực nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thời gian thực hiện đề xuất trong 2-3 năm.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Nhà hoạch định chính sách: Sử dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng các chính sách giáo dục, lao động và phát triển kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư giáo dục và giảm bất bình đẳng thu nhập.
-
Các cơ sở giáo dục và đào tạo: Tham khảo để điều chỉnh chương trình đào tạo, tập trung nâng cao chất lượng giáo dục đại học và nghề, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động.
-
Doanh nghiệp và nhà tuyển dụng: Hiểu rõ tác động của trình độ học vấn đến thu nhập và năng suất lao động, từ đó xây dựng chính sách tuyển dụng và đãi ngộ phù hợp.
-
Nhà nghiên cứu và sinh viên kinh tế phát triển: Là tài liệu tham khảo quan trọng về phương pháp phân tích suất sinh lợi giáo dục và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập cá nhân tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
-
Suất sinh lợi của giáo dục là gì?
Suất sinh lợi của giáo dục là tỷ lệ phần trăm tăng thu nhập mà một cá nhân nhận được khi tăng thêm một năm học, so với chi phí đầu tư ban đầu. Ví dụ, nghiên cứu này cho thấy mỗi năm học tăng thêm làm tăng thu nhập trung bình 5,88%. -
Tại sao sử dụng phương pháp “clustered data”?
Phương pháp này giúp xử lý hiện tượng tương quan sai số giữa các cá nhân trong cùng một hộ gia đình, đảm bảo kết quả hồi quy chính xác hơn so với phương pháp hồi quy dữ liệu chéo thông thường. -
Giới tính ảnh hưởng thế nào đến thu nhập?
Nam giới có thu nhập cao hơn nữ giới khoảng 23,19%, do nhiều yếu tố như phân công lao động, trách nhiệm gia đình và có thể tồn tại phân biệt đối xử trong thị trường lao động. -
Tại sao thu nhập ở khu vực nước ngoài và nhà nước cao hơn khu vực tư nhân?
Khu vực nước ngoài và nhà nước thường có chính sách lương, phúc lợi tốt hơn, trong khi khu vực tư nhân có xu hướng trả lương thấp hơn để giảm chi phí bảo hiểm và các khoản chi khác. -
Làm thế nào để nâng cao suất sinh lợi của giáo dục ở Việt Nam?
Cần tăng cường đầu tư vào giáo dục đại học và nghề, cải thiện chất lượng đào tạo, giảm bất bình đẳng giới và khu vực, đồng thời phát triển thị trường lao động hiệu quả hơn.
Kết luận
- Giáo dục tiếp tục là khoản đầu tư hiệu quả, với suất sinh lợi trung bình 5,88% cho mỗi năm học tăng thêm tại Việt Nam năm 2010.
- Thu nhập tăng theo số năm kinh nghiệm làm việc nhưng với tốc độ giảm dần, phù hợp với mô hình kinh tế lượng của Mincer.
- Bất bình đẳng thu nhập tồn tại giữa giới tính, khu vực làm việc và địa lý, đòi hỏi các chính sách can thiệp phù hợp.
- Phương pháp “clustered data” giúp kiểm soát ảnh hưởng của yếu tố gia đình, nâng cao độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
- Các bước tiếp theo cần tập trung vào phát triển giáo dục đại học, giảm bất bình đẳng và nâng cao chất lượng lao động để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Để tiếp tục phát triển nghiên cứu và ứng dụng kết quả, các nhà hoạch định chính sách, cơ sở giáo dục và doanh nghiệp nên phối hợp triển khai các giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư giáo dục và cải thiện thu nhập người lao động.