Chương 1 trình bày cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu và tổng quan nghiên cứu về việc làm không phù hợp, suất sinh lời từ giáo dục và tác động của việc làm không phù hợp tới suất sinh lời từ đầu tư cho giáo dục. Các mục trong chương làm rõ khái niệm về việc làm không phù hợp và suất sinh lời từ giáo dục, tổng quan một số kết quả nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam, chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của đề tài.1 Việc làm không phù hợp 1.1 Phân loại nghề nghiệp Tình trạng việc làm không phù hợp với giáo dục đào tạo có thể được xác định bằng các tiếp cận khác nhau nhưng trước hết cần phân loại nghề nghiệp để làm cơ sở cho việc xác định trình độ kĩ năng và chuyên môn phù hợp. Phân loại Nghề nghiệp Tiêu chuẩn Quốc tế (ISCO) được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để xác định việc làm phù hợp với trình độ chuyên môn đã được đào tạo của người lao động. ISCO được phát triển và duy trì bởi Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và được sử dụng phổ biến trên toàn cầu.
Mục đích chính của ISCO là định nghĩa và phân loại các nghề nghiệp theo một cách mô tả và phân loại thống nhất, nhằm tạo ra sự thống nhất và tương thích trong việc thu thập, xử lý và báo cáo thông tin về lao động và thị trường lao động giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ. Phân loại nghề nghiệp của ISCO được sử dụng làm hệ thống phân loại và tổng hợp thông tin nghề nghiệp trong các cuộc điều tra, tổng điều tra, và các ghi chép hành chính ở nhiều quốc gia. Giới thiệu Theo International Labour Organization (2012), việc phát triển ISCO được đề xướng từ năm 1947 tại Hội nghị quốc tế về thống kê lao động việc làm lần thứ 6, tuy vậy, đến năm 1958 ILO mới công bố phiên bản ISCO đầu tiên, thường được viết tắt là ISCO-58. Nền kinh tế của các quốc gia liên tục phát triển dẫn đến cấu trúc nghề nghiệp của lực lượng lao động thay đổi, các phiên bản ISCO được sửa đổi và hoàn thiện, đã có các phiên bản ISCO-68, ISCO-88 và mới nhất là ISCO-08.
Phiên bản ISCO-08 được xuất bản năm 2008 gồm 10 nhóm chính (major group), 43 nhóm phụ (sub-major group), 131 nhóm nhỏ (minor group) và 425 nhóm đơn vị nghề nghiệp (unit group). 8 ILO thiết kế và xây dựng ISCO-08 dựa trên hai khái niệm chính là công việc và kỹ năng. ISCO-08 cung cấp thông tin chi tiết về công việc và yêu cầu kỹ năng cho từng nghề nghiệp. Điều này giúp tạo ra sự thống nhất và tương thích trong việc thu thập, xử lý và báo cáo thông tin về lao động và thị trường lao động trên toàn cầu.
Theo ISCO-08, công việc được định nghĩa là một tập hợp các nhiệm vụ và trách nhiệm mà một người làm việc cần thực hiện trong một vị trí công việc cụ thể. Công việc được mô tả bằng cách xác định nhiệm vụ, trách nhiệm và chức năng chính của một người làm việc trong một lĩnh vực hoặc ngành nghề cụ thể. Kỹ năng được định nghĩa là khả năng thực hiện nhiệm vụ và trách nhiệm của một công việc cụ thể. Để thực hiện mục đích của ISCO-08, có hai khía cạnh của kỹ năng được sử dụng để sắp xếp các nghề nghiệp vào các nhóm, đó là Cấp độ kỹ năng và Kỹ năng chuyên môn.
Cấp độ kỹ năng được định nghĩa là hàm số của mức độ phức tạp và phạm vi của các nhiệm vụ và trách nhiệm cần thực hiện trong một nghề nghiệp. Cấp độ kỹ năng được đo lường qua việc xem xét một hoặc một số tiêu chí sau: (i) Bản chất của hoạt động sản xuất được thực hiện trong một nghề nghiệp; (ii) Trình độ đào tạo chính thức được xác định trong Phân loại Giáo dục Tiêu chuẩn Quốc tế (ISCED); (iii) Lượng đào tạo không chính thức: đào tạo qua công việc và/hoặc kinh nghiệm liên quan đến nghề nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm của một công việc cụ thể. Phân loại quốc tế có bốn cấp độ kỹ năng, do đó các nghề nghiệp trong ISCO-08 sẽ thuộc về duy nhất một trong bốn cấp độ kỹ năng này. Trong khi đó, Kỹ năng chuyên môn được xem xét thông qua bốn khái niệm: (i) lĩnh vực kiến thức; (ii) công cụ và máy móc được sử dụng; (iii) loại nguyên liệu dùng trong công việc, và (iv) loại sản phẩm và dịch vụ.
Khái niệm cấp độ kỹ năng được áp dụng để phân loại ra 10 nhóm chính, trong mỗi nhóm chính, kỹ năng chuyên môn được dùng làm tiêu chuẩn sắp xếp các nghề nghiệp vào các nhóm phụ, nhóm nhỏ và nhóm đơn vị nghề nghiệp. Mối liên hệ giữa các nhóm chính của ISCO-08 với bốn cấp độ kỹ năng Theo International Labour Organization (2012), bốn cấp độ kỹ năng trong ISCO- 08 được sắp xếp từ trình độ thấp lên trình độ cao, trong đó mỗi cấp độ kỹ năng yêu cầu người lao động phải thành thạo các loại kỹ năng khác nhau và ở trình độ khác nhau. Các nghề nghiệp thuộc cấp độ kỹ năng 1 thường liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ chân tay hoặc thể chất đơn giản và thông thường. Các nghề nghiệp thuộc cấp độ kỹ năng bậc 2 thường liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ như vận hành máy móc và thiết bị điện tử, lái xe, bảo trì và sửa chữa điện và cơ khí, thao tác, sắp xếp và lưu trữ thông tin.
Các nghề nghiệp thuộc cấp độ kỹ năng 3 thường liên quan đến việc thực hiện các 9 nhiệm vụ mang tính kỹ thuật và thực tiễn phức tạp đòi hỏi một lượng kiến thức thực tế, kỹ thuật và quy trình sâu rộng trong một lĩnh vực chuyên ngành. Cuối cùng, các nghề nghiệp thuộc cấp độ kỹ năng 4 thường liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi phải giải quyết vấn đề phức tạp và ra quyết định dựa trên khối lượng kiến thức lý thuyết và thực tế sâu rộng trong một lĩnh vực chuyên ngành. Mô tả nghề tương ứng với bốn cấp độ kỹ năng này được trình bày trong Phụ lục 1. Mối quan hệ giữa mười nhóm chính của ISCO-08 với bốn cấp độ kỹ năng được mô tả trong Bảng 1.
Hầu hết các nghề nghiệp trong nhóm số 1: ‘Nhà quản lý’ yêu cầu người lao động phải có cấp độ kỹ năng 4, chỉ riêng nhóm phụ số 14 ‘Nhà quản lý khách sạn, bán lẻ và dịch vụ khác’ là yêu cầu cấp độ kỹ năng 3. Cùng có yêu cầu người lao động phải có cấp độ kỹ năng 4 là tất cả các nghề nghiệp thuộc nhóm chính số 2: ‘Nhà chuyên môn bậc cao’. Yêu cầu thấp hơn một chút là các nghề nghiệp thuộc nhóm chính số 3: ‘Nhà chuyên môn bậc trung’ với trình độ phù hợp là cấp độ kỹ năng 3. Các nhóm chính số 4 đến số 8 gồm các nhóm nghề: ‘Nhân viên trợ lý văn phòng’, ‘Nhân viên dịch vụ và bán hàng’, ‘Lao động có kỹ năng trong nông nghiệp, lâm nghệp và thủy sản’, ‘Lao động thủ công và các nghề nghiệp có liên quan khác’ yêu cầu cấp độ kỹ năng 2.
Và nhóm số 9: ‘Lao động giản đơn’ yêu cầu cấp độ kỹ năng 1. Riêng nhóm chính thứ 10: ‘Lực lượng quân đội’ gồm ba nhóm phụ có yêu cầu khác nhau về cấp độ kỹ năng.1: Mối liên hệ giữa mười nhóm chính của ISCO-08 và cấp độ kỹ năng Nhóm chính ISCO-08 Cấp độ kỹ năng 1 Nhà quản lý 3+4 2 Nhà chuyên môn bậc cao 4 3 Nhà chuyên môn bậc trung 3 4 Nhân viên trợ lý văn phòng 5 Nhân viên dịch vụ và bán hàng 6 Lao động có kỹ năng trong nông nghiệp, lâm nghệp và thủy sản 2 7 Lao động thủ công và các nghề nghiệp có liên quan khác 8 Thợ lắp ráp và vận hành máy móc, thiết bị 9 Lao động giản đơn 1 0 Lực lượng quân đội 1+2+4 Nguồn: International Labour Organization (2012) 10 Mối liên hệ giữa bốn cấp độ kỹ năng với trình độ đào tạo Một trong những tiêu chí để đo lường cấp độ kỹ năng là sử dụng trình độ đào tạo chính thức được xác định trong Phân loại Giáo dục Tiêu chuẩn Quốc tế (ISCED). Phân loại Giáo dục Tiêu chuẩn Quốc tế được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) phát triển nhằm phân loại các cấp độ và loại hình giáo dục khác nhau trên toàn cầu. Hệ thống này đã được sử dụng rộng rãi trong hơn 130 quốc gia để thu thập và báo cáo dữ liệu giáo dục.
Phân loại Giáo dục Tiêu chuẩn Quốc tế năm 1997 (ISCED-97) chia các hệ thống giáo dục theo 7 bậc. Tổ chức Lao động Quốc tế có xác định quan hệ tương ứng giữa 7 bậc giáo dục này với 4 cấp độ kỹ năng trong Phân loại Nghề nghiệp Tiêu chuẩn Quốc tế (ISCO-08).2 trình bày mối liên hệ giữa các cấp độ kỹ năng của ISCO-08 với các bậc trình độ giáo dục ISCED-97 và các bậc học tương ứng của Việt Nam.2: Mối liên hệ giữa cấp độ kỹ năng của ISCO-08 và ISCED-97 Cấp độ Bậc trình độ giáo dục kỹ năng Bậc ISCED-97 Bậc học tương ứng ở Việt Nam Second stage of tertiary education Tiến sĩ 6 - Giai đoạn hai của giáo dục bậc ba 4 First stage of tertiary education, 1st Thạc sĩ 5a degree (medium duration) - Giai Đại học đoạn đầu của giáo dục bậc ba First stage of tertiary education Cao đẳng kỹ thuật nghiệp vụ 3 5b (short or medium duration) Cao đẳng nghề Post-secondary, non-tertiary Trung cấp chuyên nghiệp 4 education Trung cấp nghề Upper secondary level of Trung học phổ thông 2 3 education Lower secondary level of Trung học cơ sở 2 education 1 1 Primary level of education Tiểu học Nguồn: International Labour Organization (2012); Lê Đông Phương (2013) 11 1.2 Cách tiếp cận về việc làm không phù hợp Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để xác định tình trạng người lao động làm việc không phù hợp với trình độ và chuyên môn được đào tạo, trong đó có hai tiếp cận chính: tiếp cận theo tiêu chuẩn, và tiếp cận theo nhận thức. Montt (2015); Hartog (2000); Flisi và cộng sự (2017) đã tổng hợp và mô tả chi tiết hai tiếp cận này như sau: Tiếp cận theo tiêu chuẩn dựa vào thang đo khách quan như trình độ/kỹ năng/ chuyên môn thực tế của người lao động so với trình độ/kỹ năng/chuyên môn của những người cùng độ tuổi đang làm cùng công việc, hoặc so với trình độ/kỹ năng/chuyên môn được đánh giá là phù hợp với công việc đó.