Tác Động Của Việc Làm Không Phù Hợp Tới Suất Sinh Lời Từ Giáo Dục Ở Việt Nam

Nghiên cứu tác động của việc làm không phù hợp đến lợi tức từ giáo dục tại Việt Nam. Phân tích sâu về ảnh hưởng tới thu nhập và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Kinh tế học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2024

186
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Việc làm không phù hợp

1.1.1. Phân loại nghề nghiệp

1.1.2. Cách tiếp cận về việc làm không phù hợp

1.1.3. Các yếu tố tác động tới việc làm không phù hợp

1.2. Suất sinh lời từ giáo dục

1.2.1. Khái niệm và phương pháp đo lường suất sinh lời từ giáo dục

1.2.2. Hàm thu nhập Mincer và suất sinh lời từ giáo dục

1.2.3. Tổng quan nghiên cứu

1.2.3.1. Sự mở rộng hàm thu nhập Mincer
1.2.3.2. Các yếu tố tác động tới thu nhập
1.2.3.3. Các nghiên cứu về suất sinh lời từ giáo dục trên thế giới
1.2.3.4. Các nghiên cứu về tác động của việc làm không phù hợp tới thu nhập
1.2.3.5. Các nghiên cứu về suất sinh lời và việc làm không phù hợp tại Việt Nam

1.3. Khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của đề tài

1.4. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Số liệu mẫu nghiên cứu

2.1.1. Giới thiệu bộ số liệu Điều tra Lao động Việc làm năm 2019

2.1.2. Tạo biến việc làm phù hợp từ bộ số liệu Điều tra LĐVL năm 2019

2.1.3. Đặc điểm của số liệu mẫu nghiên cứu

2.2. Mô hình kinh tế lượng

2.2.1. Mô hình ước lượng suất sinh lời từ giáo dục

2.2.2. Mô hình kinh tế lượng ước lượng suất sinh lời từ giáo dục với sự tác động của việc làm không phù hợp

2.3. Phương pháp ước lượng và phân tích

2.3.1. Phương pháp ước lượng bằng mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh

2.3.2. Phương pháp kiểm định biến giải thích nội sinh

2.3.3. Phương pháp phân rã Oaxaca - Blinder

2.4. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC LÀM KHÔNG PHÙ HỢP TỚI THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

3.1. Thực trạng việc làm không phù hợp với giáo dục đào tạo

3.1.1. Tỷ lệ người lao động làm việc không phù hợp với giáo dục đào tạo

3.1.2. Tỷ lệ người lao động làm việc không phù hợp với giáo dục đào tạo phân theo đặc điểm cá nhân

3.1.3. Tỷ lệ người lao động làm việc không phù hợp với giáo dục đào tạo phân theo đặc điểm việc làm và cư trú

3.2. Phân tích thu nhập của người lao động với sự tác động của việc làm không phù hợp

3.2.1. Thống kê mô tả thu nhập theo tình trạng việc làm không phù hợp

3.2.2. Phân tích thu nhập theo tình trạng việc làm và đặc điểm cá nhân

3.2.3. Phân tích thu nhập theo tình trạng việc làm và nơi làm việc và cư trú

3.3. Kết luận Chương 3

4. CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC LÀM KHÔNG PHÙ HỢP TỚI SUẤT SINH LỜI TỪ GIÁO DỤC

4.1. Ước lượng hàm thu nhập Mincer bằng phương pháp OLS

4.1.1. Mô hình kinh tế lượng

4.1.2. Kiểm định tính nội sinh của biến việc làm không phù hợp

4.2. Ước lượng suất sinh lời bằng phương pháp FIML

4.2.1. Chỉ định mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh (ESR)

4.2.2. Ước lượng và kiểm định mô hình ESR

4.2.3. Phân tích hàm thu nhập Mincer trong hai trạng thái việc làm

4.3. Bình luận kết quả ước lượng từ các mô hình kinh tế lượng

4.3.1. Những điểm thống nhất trong kết quả ước lượng OLS và FIML

4.3.2. Những điểm khác biệt trong kết quả ước lượng OLS và FIML

4.4. Phân rã Oaxaca - Blinder

4.5. Kết luận Chương 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5.2. Khuyến nghị chính sách

5.3. Những kết quả chính của luận án

5.4. Hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu tiếp theo

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giáo Dục Thu Nhập Tổng Quan Nghiên Cứu Chuyên Sâu Nhất

Giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần vào vốn xã hộivốn con người. Các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến suất sinh lời từ đầu tư cho giáo dục từ những năm 1950, sử dụng nó để đưa ra các quyết định chính sách vĩ mô và cải cách giáo dục. Những người có trình độ học vấn cao thường có cơ hội việc làm và thu nhập tốt hơn, tạo động lực thúc đẩy đầu tư vào giáo dục. Tuy nhiên, bằng chứng từ các nước đang chuyển đổi cho thấy, tác động của việc làm đúng ngành nghề đến thu nhập không phải lúc nào cũng rõ ràng. Sự thay đổi cơ cấu ngành nghề, sự không ăn khớp giữa giáo dục và nhu cầu thị trường, và chênh lệch cung cầu lao động đều ảnh hưởng đến suất sinh lời từ giáo dục. Điều này dẫn đến việc sử dụng kém hiệu quả nguồn lực và phân bổ lại nguồn lực. Nghiên cứu này đi sâu vào tác động của việc làm không phù hợp đến lợi tức giáo dục ở Việt Nam, một vấn đề ít được nghiên cứu ở các nước đang phát triển.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Kinh Tế

Giáo dục tạo ra nguồn nhân lực phù hợp cho mỗi quốc gia, từ đó hình thành nên vốn xã hộivốn con người (Lau và cộng sự, 1993; Moock và cộng sự, 2003; Hanushek và Woessmann, 2020). Quá trình đào tạo thường đem lại lợi ích cho chính đất nước đó, các cơ sở giáo dục và cá nhân được đào tạo. Các quốc gia và các tổ chức dựa vào suất sinh lời từ giáo dục để đưa ra các quyết định chính sách vĩ mô, quỹ đầu tư cho giáo dục cũng như các chương trình cải cách giáo dục (Staff, 2002).

1.2. Những Thách Thức Trong Việc Đánh Giá Suất Sinh Lời Giáo Dục

Những bằng chứng tại các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi lại đưa ra những khía cạnh khác nhau về suất sinh lời từ giáo dục. Đối với nhóm lao động có thu nhập trung bình, tác động của việc làm đúng ngành nghề hay không đúng ngành nghề tới thu nhập không có nhiều dấu hiệu rõ ràng (Nguyen và cộng sự, 2021). Nhưng lại có bằng chứng rõ ràng về tác động của việc làm đúng ngành nghề tới thu nhập của lao động trẻ: đúng ngành nghề sẽ có thu nhập tốt hơn (She và cộng sự, 2023; Le và cộng sự, 2022).

II. Làm Trái Ngành Thực Trạng Ảnh Hưởng Đến Thu Nhập

Việc làm không phù hợp được phân tích theo hai khía cạnh: theo chiều dọc (dựa trên trình độ, bằng cấp) và theo chiều ngang (dựa trên lĩnh vực chuyên môn). Theo lý thuyết vốn con người, người lao động làm việc không phù hợp sẽ không thể sử dụng hết kỹ năng đã được đào tạo, dẫn đến thu nhập thấp hơn so với người làm việc phù hợp. Người lao động làm việc không phù hợp là một sự lãng phí cho cả cá nhân và xã hội, ảnh hưởng đến hiệu quả của giáo dục và đóng góp vào nền kinh tế. Nghiên cứu này nhằm nhận diện thực trạng này và tìm hiểu ảnh hưởng của việc làm không phù hợp đến thu nhập của người lao động, một lĩnh vực ít được nghiên cứu ở các nước đang phát triển, nơi có những đặc thù riêng biệt.

2.1. Phân Loại Việc Làm Không Phù Hợp Chiều Dọc Và Chiều Ngang

Việc làm không phù hợp được phân tích theo hai khía cạnh: việc làm không phù hợp theo chiều dọcviệc làm không phù hợp theo chiều ngang (Sloane, 2020). Việc làm không phù hợp theo chiều dọc dựa trên đối chiếu trình độ, bằng cấp, hoặc kỹ năng của người lao động với yêu cầu của công việc. Việc làm không phù hợp theo chiều ngang dựa trên đối chiếu lĩnh vực chuyên môn/nghề đã được đào tạo của người lao động với nghề nghiệp hiện tại.

2.2. Mối Liên Hệ Giữa Việc Làm Không Phù Hợp Thu Nhập

Theo lý thuyết vốn con người, thêm số năm đi học người lao động sẽ được tăng kiến thức, kỹ năng và khả năng giải quyết vấn đề, từ đó tăng năng suất và tăng thu nhập (Finnie và Frenette, 2003). Nhưng người lao động làm việc không phù hợp với đào tạo sẽ không thể sử dụng hết những kỹ năng đã được đào tạo của họ vào công việc và người sử dụng lao động sẽ không trả tiền công cho những kỹ năng không được sử dụng đến này.

2.3. Hệ Lụy Của Việc Làm Không Phù Hợp Đối Với Cá Nhân Và Xã Hội

Người lao động làm việc không phù hợp với trình độ và chuyên môn đã được đào tạo là một sự lãng phí cho cả cá nhân và xã hội. Hệ lụy của tình trạng này là không tốt đứng trên góc độ hiệu quả của giáo dục cũng như đóng góp của người lao động cho nền kinh tế. Do đó, việc nhận diện thực trạng này và tìm hiểu ảnh hưởng của việc làm không phù hợp với giáo dục tới thu nhập của người lao động là rất cần thiết.

III. Cách Đo Lường Đánh Giá Suất Sinh Lời Từ Giáo Dục

Luận án này tập trung vào đánh giá tác động của việc làm không phù hợp đến suất sinh lời từ giáo dục. Nghiên cứu đặt ra các câu hỏi: Việc làm không phù hợp được xác định như thế nào? Tình trạng này ở Việt Nam hiện tại ra sao? Thu nhập của lao động làm việc phù hợp và không phù hợp khác nhau như thế nào? Suất sinh lời từ giáo dục có khác biệt giữa hai nhóm này không? Mô hình nào phù hợp để phân tích tác động này? Sự chênh lệch thu nhập là do tố chất hay do tình trạng việc làm? Từ đó, đưa ra hàm ý chính sách phù hợp.

3.1. Xác Định Tiêu Chí Đánh Giá Việc Làm Không Phù Hợp

Việc làm không phù hợp với trình độ chuyên môn được xác định như thế nào? Tình trạng việc làm không phù hợp với trình độ chuyên môn theo tiêu chuẩn quốc tế ở Việt Nam hiện tại ra sao? Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi ở Việt Nam, thu nhập của lao động làm việc không phù hợp và phù hợp với giáo dục khác nhau như thế nào?

3.2. So Sánh Suất Sinh Lời Giáo Dục Giữa Các Nhóm Lao Động

Suất sinh lời từ giáo dục có khác biệt đối với những người làm việc phù hợp và không phù hợp với giáo dục hay không? Mô hình nào phù hợp với việc phân tích tác động của tình trạng việc làm không phù hợp tới suất sinh lời từ giáo dục? Sự chênh lệch thu nhập giữa người làm việc không phù hợp và người làm việc phù hợp là do tố chất của họ hay do tình trạng việc làm?

3.3. Đưa Ra Các Hàm Ý Chính Sách Dựa Trên Kết Quả Nghiên Cứu

Hàm ý chính sách nào cần được nêu ra? Các chính sách của nhà nước nên tập trung vào những vấn đề gì? Đâu là những yếu tố cần được xem xét để tối ưu hóa hiệu quả giáo dục và phát triển thị trường lao động?

IV. Nghiên Cứu Chuyên Sâu Đối Tượng Phạm Vi Phân Tích

Đối tượng nghiên cứu là tác động của việc làm không phù hợp đến suất sinh lời từ giáo dục, được đo lường thông qua hàm thu nhập từ vốn con người của Mincer. Luận án tập trung vào suất sinh lời cá nhân từ giáo dục và tác động điều tiết của việc làm không phù hợp đến mối quan hệ giữa số năm đi học và thu nhập. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở suất sinh lời cá nhân, ước lượng qua hàm thu nhập Mincer, dựa trên số năm đi học, kinh nghiệm và thu nhập. Luận án tập trung vào các yếu tố chính đã được đề xuất trong mô hình Mincer và các nghiên cứu trước, bổ sung yếu tố việc làm không phù hợp, và áp dụng tiêu chuẩn để xác định tình trạng này theo trình độ và lĩnh vực chuyên môn. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu Điều tra Lao động Việc làm năm 2019 trên 63 tỉnh thành.

4.1. Xác Định Đối Tượng Nghiên Cứu Suất Sinh Lời Cá Nhân

Đối tượng nghiên cứu là sự tác động của việc làm không phù hợp tới suất sinh lời từ giáo dục. Cụ thể là, suất sinh lời cá nhân từ giáo dục được đo lường thông qua hàm thu nhập từ vốn con người của Mincer, trong đó suất sinh lời chính là hệ số tác động biên của số năm đi học lên thu nhập của người lao động – cho biết tỷ lệ thu nhập tăng thêm tương ứng với mỗi năm đi học.

4.2. Giới Hạn Phạm Vi Nghiên Cứu Về Nội Dung Không Gian Thời Gian

Đề tài luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu là suất sinh lời cá nhân từ giáo dục, trong đó suất sinh lời cá nhân từ giáo dục được ước lượng qua hàm thu nhập từ vốn con người của Mincer. Trên thực tế có nhiều yếu tố khác nhau cùng ảnh hưởng đến suất sinh lời từ giáo dục nhưng luận án chỉ tập trung vào các yếu tố chính đã được đề xuất trong mô hình Mincer và trong các nghiên cứu trước đây, đồng thời bổ sung yếu tố việc làm không phù hợp với giáo dục đào tạo.

V. Phương Pháp Nghiên Cứu Nguồn Số Liệu Phân Tích Chi Tiết

Luận án sử dụng phương pháp định lượng, bao gồm phân tích thống kê và kinh tế lượng. Phân tích thống kê mô tả được dùng để phản ánh thực trạng việc làm không phù hợp và so sánh thu nhập. Phương pháp kinh tế lượng ước lượng suất sinh lời từ đầu tư cho giáo dục trong điều kiện làm việc phù hợp hoặc không phù hợp. Mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh (ESR) được sử dụng để giải quyết vấn đề biến nội sinh. Phương pháp phân rã Oaxaca – Blinder phân tích sâu hơn về quá trình hình thành thu nhập. Dữ liệu được lấy từ Điều tra Lao động Việc làm năm 2019.

5.1. Sử Dụng Phương Pháp Định Lượng Trong Phân Tích

Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng bao gồm phương pháp phân tích thống kê và phương pháp kinh tế lượng. Phương pháp phân tích thống kê mô tả được dùng để: (i) phản ánh thực trạng việc làm không phù hợp tại Việt Nam; (ii) so sánh thu nhập của người lao động làm việc phù hợp và làm việc không phù hợp.

5.2. Ước Lượng Suất Sinh Lời Bằng Mô Hình Kinh Tế Lượng

Phương pháp kinh tế lượng được dùng để: Thứ nhất là ước lượng suất sinh lời từ đầu tư cho giáo dục của các cá nhân trong điều kiện làm việc phù hợp hoặc không phù hợp với giáo dục đào tạo. Hàm thu nhập Mincer được mở rộng thêm biến việc làm không phù hợp với giáo dục đào tạo. Trong trường hợp biến việc làm không phù hợp với giáo dục đào tạo là biến nội sinh, nghiên cứu sinh sử dụng mô hình chuyển đổi nội sinh (ESR) và ước lượng bằng phương pháp hợp lý tối đa đầy đủ thông tin (FIML) nhằm thu được ước lượng vững của các tham số trong mô hình.

5.3. Phân Tích Chênh Lệch Thu Nhập Bằng Phương Pháp Phân Rã Oaxaca Blinder

Luận án sử dụng phương pháp phân rã Oaxaca – Blinder để phân tích kỹ hơn về quá trình hình thành thu nhập và xác định những nhân tố có tác động lớn đến sự chênh lệch thu nhập giữa những người làm việc phù hợp và những người làm việc không phù hợp với giáo dục đào tạo.

VI. Đóng Góp Mới Lý Luận Thực Tiễn Trong Nghiên Cứu

Luận án này có những đóng góp mới cả về lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận, nó mở rộng mô hình Mincer bằng cách bổ sung yếu tố tình trạng việc làm không phù hợp. Kết quả kiểm định khẳng định tính nội sinh của tình trạng này, và luận án giải quyết vấn đề ước lượng mô hình bằng ESR. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu áp dụng tiếp cận theo tiêu chuẩn để xác định thực trạng việc làm không phù hợp, cung cấp thông tin chi tiết về tình trạng này ở Việt Nam và phân tích ảnh hưởng của nó đến thu nhập.

6.1. Mở Rộng Lý Thuyết Về Suất Sinh Lời Giáo Dục

Về mặt lý luận, luận án đã mở rộng mô hình Mincer (1958, 1974) bằng việc bổ sung nhân tố tình trạng việc làm không phù hợp với giáo dục vào mô hình này. Kết quả kiểm định từ bộ số liệu Điều tra LĐVL của Việt Nam đã khẳng định tính nội sinh của tình trạng việc làm không phù hợp. Luận án đã giải quyết vấn đề ước lượng mô hình kinh tế lượng khi mô hình này chứa biến giả nội sinh bằng việc sử dụng mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh (ESR).

6.2. Đóng Góp Thực Tiễn Trong Phân Tích Thực Trạng Việc Làm

Về mặt thực tiễn, luận án áp dụng tiếp cận theo tiêu chuẩn vào việc xác định và phản ánh thực trạng việc làm không phù hợp trên đồng thời hai khía cạnh trình độ và lĩnh vực đào tạo của người lao động. Kết quả thống kê cung cấp thông tin về tình trạng việc làm không phù hợp tại Việt Nam. Tỷ lệ người lao động làm việc không phù hợp có sự khác nhau khá lớn giữa giới tính, trình độ và lĩnh vực đào tạo.

6.3. Phân Tích Chi Tiết Ảnh Hưởng Của Việc Làm Không Phù Hợp Tới Thu Nhập

Luận án phân tích sâu sắc ảnh hưởng của việc làm không phù hợp tới thu nhập của người lao động thông qua các phương pháp thống kê. Các kết quả phân tích cung cấp những bằng chứng quan trọng về sự khác biệt giữa hai nhóm lao động phù hợp và không phù hợp, cũng như những yếu tố tác động đến thu nhập của họ.

14/05/2025
Tác động của việc làm không phù hợp tới suất sinh lời từ giáo dục ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 trình bày cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu và tổng quan nghiên cứu về việc làm không phù hợp, suất sinh lời từ giáo dục và tác động của việc làm không phù hợp tới suất sinh lời từ đầu tư cho giáo dục. Các mục trong chương làm rõ khái niệm về việc làm không phù hợp và suất sinh lời từ giáo dục, tổng quan một số kết quả nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam, chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của đề tài.1 Việc làm không phù hợp 1.1 Phân loại nghề nghiệp Tình trạng việc làm không phù hợp với giáo dục đào tạo có thể được xác định bằng các tiếp cận khác nhau nhưng trước hết cần phân loại nghề nghiệp để làm cơ sở cho việc xác định trình độ kĩ năng và chuyên môn phù hợp. Phân loại Nghề nghiệp Tiêu chuẩn Quốc tế (ISCO) được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để xác định việc làm phù hợp với trình độ chuyên môn đã được đào tạo của người lao động. ISCO được phát triển và duy trì bởi Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và được sử dụng phổ biến trên toàn cầu.

Mục đích chính của ISCO là định nghĩa và phân loại các nghề nghiệp theo một cách mô tả và phân loại thống nhất, nhằm tạo ra sự thống nhất và tương thích trong việc thu thập, xử lý và báo cáo thông tin về lao động và thị trường lao động giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ. Phân loại nghề nghiệp của ISCO được sử dụng làm hệ thống phân loại và tổng hợp thông tin nghề nghiệp trong các cuộc điều tra, tổng điều tra, và các ghi chép hành chính ở nhiều quốc gia. Giới thiệu Theo International Labour Organization (2012), việc phát triển ISCO được đề xướng từ năm 1947 tại Hội nghị quốc tế về thống kê lao động việc làm lần thứ 6, tuy vậy, đến năm 1958 ILO mới công bố phiên bản ISCO đầu tiên, thường được viết tắt là ISCO-58. Nền kinh tế của các quốc gia liên tục phát triển dẫn đến cấu trúc nghề nghiệp của lực lượng lao động thay đổi, các phiên bản ISCO được sửa đổi và hoàn thiện, đã có các phiên bản ISCO-68, ISCO-88 và mới nhất là ISCO-08.

Phiên bản ISCO-08 được xuất bản năm 2008 gồm 10 nhóm chính (major group), 43 nhóm phụ (sub-major group), 131 nhóm nhỏ (minor group) và 425 nhóm đơn vị nghề nghiệp (unit group). 8 ILO thiết kế và xây dựng ISCO-08 dựa trên hai khái niệm chính là công việc và kỹ năng. ISCO-08 cung cấp thông tin chi tiết về công việc và yêu cầu kỹ năng cho từng nghề nghiệp. Điều này giúp tạo ra sự thống nhất và tương thích trong việc thu thập, xử lý và báo cáo thông tin về lao động và thị trường lao động trên toàn cầu.

Theo ISCO-08, công việc được định nghĩa là một tập hợp các nhiệm vụ và trách nhiệm mà một người làm việc cần thực hiện trong một vị trí công việc cụ thể. Công việc được mô tả bằng cách xác định nhiệm vụ, trách nhiệm và chức năng chính của một người làm việc trong một lĩnh vực hoặc ngành nghề cụ thể. Kỹ năng được định nghĩa là khả năng thực hiện nhiệm vụ và trách nhiệm của một công việc cụ thể. Để thực hiện mục đích của ISCO-08, có hai khía cạnh của kỹ năng được sử dụng để sắp xếp các nghề nghiệp vào các nhóm, đó là Cấp độ kỹ năng và Kỹ năng chuyên môn.

Cấp độ kỹ năng được định nghĩa là hàm số của mức độ phức tạp và phạm vi của các nhiệm vụ và trách nhiệm cần thực hiện trong một nghề nghiệp. Cấp độ kỹ năng được đo lường qua việc xem xét một hoặc một số tiêu chí sau: (i) Bản chất của hoạt động sản xuất được thực hiện trong một nghề nghiệp; (ii) Trình độ đào tạo chính thức được xác định trong Phân loại Giáo dục Tiêu chuẩn Quốc tế (ISCED); (iii) Lượng đào tạo không chính thức: đào tạo qua công việc và/hoặc kinh nghiệm liên quan đến nghề nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm của một công việc cụ thể. Phân loại quốc tế có bốn cấp độ kỹ năng, do đó các nghề nghiệp trong ISCO-08 sẽ thuộc về duy nhất một trong bốn cấp độ kỹ năng này. Trong khi đó, Kỹ năng chuyên môn được xem xét thông qua bốn khái niệm: (i) lĩnh vực kiến thức; (ii) công cụ và máy móc được sử dụng; (iii) loại nguyên liệu dùng trong công việc, và (iv) loại sản phẩm và dịch vụ.

Khái niệm cấp độ kỹ năng được áp dụng để phân loại ra 10 nhóm chính, trong mỗi nhóm chính, kỹ năng chuyên môn được dùng làm tiêu chuẩn sắp xếp các nghề nghiệp vào các nhóm phụ, nhóm nhỏ và nhóm đơn vị nghề nghiệp. Mối liên hệ giữa các nhóm chính của ISCO-08 với bốn cấp độ kỹ năng Theo International Labour Organization (2012), bốn cấp độ kỹ năng trong ISCO- 08 được sắp xếp từ trình độ thấp lên trình độ cao, trong đó mỗi cấp độ kỹ năng yêu cầu người lao động phải thành thạo các loại kỹ năng khác nhau và ở trình độ khác nhau. Các nghề nghiệp thuộc cấp độ kỹ năng 1 thường liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ chân tay hoặc thể chất đơn giản và thông thường. Các nghề nghiệp thuộc cấp độ kỹ năng bậc 2 thường liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ như vận hành máy móc và thiết bị điện tử, lái xe, bảo trì và sửa chữa điện và cơ khí, thao tác, sắp xếp và lưu trữ thông tin.

Các nghề nghiệp thuộc cấp độ kỹ năng 3 thường liên quan đến việc thực hiện các 9 nhiệm vụ mang tính kỹ thuật và thực tiễn phức tạp đòi hỏi một lượng kiến thức thực tế, kỹ thuật và quy trình sâu rộng trong một lĩnh vực chuyên ngành. Cuối cùng, các nghề nghiệp thuộc cấp độ kỹ năng 4 thường liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi phải giải quyết vấn đề phức tạp và ra quyết định dựa trên khối lượng kiến thức lý thuyết và thực tế sâu rộng trong một lĩnh vực chuyên ngành. Mô tả nghề tương ứng với bốn cấp độ kỹ năng này được trình bày trong Phụ lục 1. Mối quan hệ giữa mười nhóm chính của ISCO-08 với bốn cấp độ kỹ năng được mô tả trong Bảng 1.

Hầu hết các nghề nghiệp trong nhóm số 1: ‘Nhà quản lý’ yêu cầu người lao động phải có cấp độ kỹ năng 4, chỉ riêng nhóm phụ số 14 ‘Nhà quản lý khách sạn, bán lẻ và dịch vụ khác’ là yêu cầu cấp độ kỹ năng 3. Cùng có yêu cầu người lao động phải có cấp độ kỹ năng 4 là tất cả các nghề nghiệp thuộc nhóm chính số 2: ‘Nhà chuyên môn bậc cao’. Yêu cầu thấp hơn một chút là các nghề nghiệp thuộc nhóm chính số 3: ‘Nhà chuyên môn bậc trung’ với trình độ phù hợp là cấp độ kỹ năng 3. Các nhóm chính số 4 đến số 8 gồm các nhóm nghề: ‘Nhân viên trợ lý văn phòng’, ‘Nhân viên dịch vụ và bán hàng’, ‘Lao động có kỹ năng trong nông nghiệp, lâm nghệp và thủy sản’, ‘Lao động thủ công và các nghề nghiệp có liên quan khác’ yêu cầu cấp độ kỹ năng 2.

Và nhóm số 9: ‘Lao động giản đơn’ yêu cầu cấp độ kỹ năng 1. Riêng nhóm chính thứ 10: ‘Lực lượng quân đội’ gồm ba nhóm phụ có yêu cầu khác nhau về cấp độ kỹ năng.1: Mối liên hệ giữa mười nhóm chính của ISCO-08 và cấp độ kỹ năng Nhóm chính ISCO-08 Cấp độ kỹ năng 1 Nhà quản lý 3+4 2 Nhà chuyên môn bậc cao 4 3 Nhà chuyên môn bậc trung 3 4 Nhân viên trợ lý văn phòng 5 Nhân viên dịch vụ và bán hàng 6 Lao động có kỹ năng trong nông nghiệp, lâm nghệp và thủy sản 2 7 Lao động thủ công và các nghề nghiệp có liên quan khác 8 Thợ lắp ráp và vận hành máy móc, thiết bị 9 Lao động giản đơn 1 0 Lực lượng quân đội 1+2+4 Nguồn: International Labour Organization (2012) 10 Mối liên hệ giữa bốn cấp độ kỹ năng với trình độ đào tạo Một trong những tiêu chí để đo lường cấp độ kỹ năng là sử dụng trình độ đào tạo chính thức được xác định trong Phân loại Giáo dục Tiêu chuẩn Quốc tế (ISCED). Phân loại Giáo dục Tiêu chuẩn Quốc tế được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) phát triển nhằm phân loại các cấp độ và loại hình giáo dục khác nhau trên toàn cầu. Hệ thống này đã được sử dụng rộng rãi trong hơn 130 quốc gia để thu thập và báo cáo dữ liệu giáo dục.

Phân loại Giáo dục Tiêu chuẩn Quốc tế năm 1997 (ISCED-97) chia các hệ thống giáo dục theo 7 bậc. Tổ chức Lao động Quốc tế có xác định quan hệ tương ứng giữa 7 bậc giáo dục này với 4 cấp độ kỹ năng trong Phân loại Nghề nghiệp Tiêu chuẩn Quốc tế (ISCO-08).2 trình bày mối liên hệ giữa các cấp độ kỹ năng của ISCO-08 với các bậc trình độ giáo dục ISCED-97 và các bậc học tương ứng của Việt Nam.2: Mối liên hệ giữa cấp độ kỹ năng của ISCO-08 và ISCED-97 Cấp độ Bậc trình độ giáo dục kỹ năng Bậc ISCED-97 Bậc học tương ứng ở Việt Nam Second stage of tertiary education Tiến sĩ 6 - Giai đoạn hai của giáo dục bậc ba 4 First stage of tertiary education, 1st Thạc sĩ 5a degree (medium duration) - Giai Đại học đoạn đầu của giáo dục bậc ba First stage of tertiary education Cao đẳng kỹ thuật nghiệp vụ 3 5b (short or medium duration) Cao đẳng nghề Post-secondary, non-tertiary Trung cấp chuyên nghiệp 4 education Trung cấp nghề Upper secondary level of Trung học phổ thông 2 3 education Lower secondary level of Trung học cơ sở 2 education 1 1 Primary level of education Tiểu học Nguồn: International Labour Organization (2012); Lê Đông Phương (2013) 11 1.2 Cách tiếp cận về việc làm không phù hợp Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để xác định tình trạng người lao động làm việc không phù hợp với trình độ và chuyên môn được đào tạo, trong đó có hai tiếp cận chính: tiếp cận theo tiêu chuẩn, và tiếp cận theo nhận thức. Montt (2015); Hartog (2000); Flisi và cộng sự (2017) đã tổng hợp và mô tả chi tiết hai tiếp cận này như sau: Tiếp cận theo tiêu chuẩn dựa vào thang đo khách quan như trình độ/kỹ năng/ chuyên môn thực tế của người lao động so với trình độ/kỹ năng/chuyên môn của những người cùng độ tuổi đang làm cùng công việc, hoặc so với trình độ/kỹ năng/chuyên môn được đánh giá là phù hợp với công việc đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu "Tác động của Việc Làm Không Phù Hợp Đến Lợi Tức Từ Giáo Dục ở Việt Nam: Nghiên cứu chuyên sâu" đi sâu phân tích ảnh hưởng tiêu cực của tình trạng làm việc không đúng chuyên môn đến thu nhập của người lao động đã qua đào tạo tại Việt Nam. Nó chỉ ra rằng, khi người lao động làm công việc không phù hợp với bằng cấp và kỹ năng được đào tạo, lợi ích kinh tế từ giáo dục (ví dụ: mức lương cao hơn) sẽ bị giảm sút đáng kể. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực tế, có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, các cơ sở đào tạo và cả người lao động trong việc định hướng nghề nghiệp, điều chỉnh chương trình đào tạo và cải thiện thị trường lao động.

Để hiểu rõ hơn về quá trình lựa chọn ngành nghề và trường đại học, vốn có ảnh hưởng lớn đến việc làm sau này, bạn có thể tham khảo thêm: Đề tài các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học khối ngành kinh tế của tân sinh viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Việc khám phá những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về nguồn gốc của vấn đề việc làm không phù hợp và cách giải quyết nó từ gốc rễ.