Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Giáo dục giữ vai trò cốt lõi trong việc hình thành vốn con người và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Lau và cộng sự, 1993; Moock và cộng sự, 2003; Hanushek và Woessmann, 2020). Ở cấp độ cá nhân, đầu tư cho giáo dục giúp người lao động nâng cao năng suất, cải thiện thu nhập và giảm thiểu nguy cơ thất nghiệp (Psacharopoulos và Patrinos, 2004; Haanwinckel, 2023). Tuy nhiên, trong bối cảnh các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập quốc tế sâu rộng, sự thay đổi nhanh chóng của cơ cấu kinh tế cùng với sự bất cân xứng giữa hệ thống đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động đã làm gia tăng tình trạng việc làm không phù hợp (mismatched employment) (Griffin và cộng sự, 2012; Khuc và cộng sự, 2022).

Ở cấp độ vĩ mô, việc làm không phù hợp dẫn đến sự lãng phí và phân bổ kém hiệu quả nguồn lực vốn con người của nền kinh tế. Ở cấp độ vi mô, người lao động làm việc trái ngành hoặc không đúng trình độ đào tạo thường phải chịu thiệt hại về thu nhập và có mức độ hài lòng công việc thấp hơn so với những người có việc làm phù hợp (Mateos-Romero và Salinas-Jiménez, 2018; Robst, 2007b). Mặc dù chủ đề này đã được nghiên cứu rộng rãi tại các quốc gia phát triển, các bằng chứng thực nghiệm tại các nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam còn tồn tại nhiều khoảng trống:

  • Các nghiên cứu tại Việt Nam trước đây chủ yếu tiếp cận việc làm không phù hợp theo một chiều đơn lẻ: hoặc theo chiều dọc - thừa/thiếu trình độ (Le và Tran, 2019), hoặc theo chiều ngang - làm việc trái chuyên môn đào tạo (Tran và cộng sự, 2019a). Chưa có nghiên cứu nào xem xét đồng thời cả hai chiều tiếp cận này dựa trên thang đo chuẩn tắc quốc tế.
  • Các nghiên cứu trước phần lớn sử dụng phương pháp tiếp cận theo nhận thức chủ quan của người lao động hoặc chỉ giới hạn ở nhóm lao động có trình độ đại học (Tran và cộng sự, 2019a; Tran và Van Vu, 2020; Tran và cộng sự, 2023).
  • Vấn đề nội sinh của biến tình trạng việc làm không phù hợp (xuất phát từ năng lực, tố chất không quan sát được của cá nhân) chưa được xử lý một cách triệt để trong các mô hình ước lượng hàm thu nhập Mincer truyền thống tại Việt Nam.

Do đó, luận án "Tác động của việc làm không phù hợp tới suất sinh lời từ giáo dục ở Việt Nam" của nghiên cứu sinh Vũ Thị Bích Ngọc (Chuyên ngành Toán kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2024) được thực hiện nhằm giải quyết các khoảng trống học thuật và thực tiễn nêu trên.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá tác động của việc làm không phù hợp với trình độ chuyên môn được đào tạo tới suất sinh lời từ giáo dục của người lao động tại Việt Nam dưới góc độ cá nhân.

Để đạt được mục tiêu này, luận án tập trung giải quyết 7 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Việc làm không phù hợp với trình độ chuyên môn được xác định như thế nào?
  2. Tình trạng việc làm không phù hợp với trình độ chuyên môn theo tiêu chuẩn quốc tế ở Việt Nam hiện tại ra sao?
  3. Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi ở Việt Nam, thu nhập của lao động làm việc không phù hợp và phù hợp với giáo dục khác nhau như thế nào?
  4. Suất sinh lời từ giáo dục có khác biệt đối với những người làm việc phù hợp và không phù hợp với giáo dục hay không?
  5. Mô hình nào phù hợp với việc phân tích tác động của tình trạng việc làm không phù hợp tới suất sinh lời từ giáo dục?
  6. Sự chênh lệch thu nhập giữa người làm việc không phù hợp và người làm việc phù hợp là do tố chất của họ hay do tình trạng việc làm?
  7. Hàm ý chính sách nào cần được nêu ra?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Suất sinh lời cá nhân từ giáo dục và tác động điều tiết của tình trạng việc làm không phù hợp tới mối quan hệ nhân quả giữa số năm đi học và thu nhập của người lao động. Suất sinh lời được đo lường thông qua hệ số tác động biên của số năm đi học lên thu nhập trong hàm thu nhập từ vốn con người của Mincer.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào suất sinh lời cá nhân từ giáo dục dựa trên số năm đi học, số năm kinh nghiệm và thu nhập tại thời điểm khảo sát; xác định việc làm không phù hợp theo tiếp cận tiêu chuẩn trên cả hai khía cạnh: trình độ (chiều dọc) và lĩnh vực chuyên môn đào tạo (chiều ngang).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam, sử dụng dữ liệu từ bộ số liệu Điều tra Lao động Việc làm năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án đã tổng quan hệ thống tài liệu nghiên cứu quốc tế và trong nước xoay quanh ba mạch nội dung chính:

  1. Lý thuyết vốn con người và hàm thu nhập Mincer:
    • Nền tảng lý thuyết bắt nguồn từ nghiên cứu của Schultz (1961), Becker (1964), Ben-Porath (1967), Mincer (1958, 1974), Lucas (1988), Mankiw và cộng sự (1992).
    • Tổng kết quốc tế của Psacharopoulos và Patrinos (2004, 2018), Patrinos và Psacharopoulos (2020), Montenegro và Patrinos (2014) trên 139 quốc gia cho thấy suất sinh lời từ giáo dục toàn cầu trung bình đạt khoảng 9,7% và có xu hướng ổn định qua các thập kỷ, trong đó suất sinh lời ở các nước đang phát triển và bậc giáo dục đại học thường cao hơn.
    • Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Moock và cộng sự (2003), Oostendorp và Quang (2010), Doan và cộng sự (2018), Lê Thái Sơn và Nguyễn Thị Minh (2018) đã ước lượng suất sinh lời từ giáo dục trong các giai đoạn từ 1992 đến 2014, ghi nhận mức sinh lời biến động từ 4,8% đến khoảng 9% - 10%.
Năm công bố Tác giả Nguồn dữ liệu Phương pháp Ước lượng suất sinh lời trung bình
2003 Moock và cộng sự VHLSS 1991–1992 OLS 4,8% (Nữ: 6,8%; Nam: 3,4%)
2010 Oostendorp và Quang VHLSS 1998, 2002, 2004, 2006 Mincer mở rộng bậc 2 3–5% (lớp 6); 6–12% (lớp 12); 7–17% (15 năm học)
2018 Doan và cộng sự VHLSS 1998–2014 OLS & Heckman Tăng từ 2,5% (1998) lên 7,6% (2008), giảm xuống 5,2% (2014)
2018 Lê Thái Sơn và Nguyễn Thị Minh LĐVL 2014 Lewbel IV Đánh giá vai trò vốn nhân lực và phát tín hiệu của giáo dục
  1. Tác động của việc làm không phù hợp theo chiều dọc (trình độ):

    • Duncan và Hoffman (1981) khởi xướng mô hình ORU (Over-educated, Required, Under-educated), chứng minh suất sinh lời của những năm học vượt quá yêu cầu công việc luôn thấp hơn những năm học cần thiết.
    • Hartog (2000), Allen và Van der Velden (2001), Chevalier và Lindley (2009), Caroleo và Pastore (2018), Capsada-Munsech (2020) khẳng định hiện tượng thừa trình độ gây tổn thất tiền lương từ 5% đến hơn 15% trên thị trường lao động các nước phát triển.
  2. Tác động của việc làm không phù hợp theo chiều ngang (lĩnh vực chuyên môn) và kết hợp hai chiều:

    • Robst (2007b) chỉ ra làm việc trái ngành làm giảm 8,9% thu nhập ở nữ giới và 10,2% ở nam giới tại Hoa Kỳ.
    • Montt (2015) sử dụng dữ liệu PIAAC của 24 quốc gia, phân loại 4 trạng thái việc làm và chỉ ra rằng không phù hợp cả trình độ lẫn lĩnh vực đào tạo làm giảm thu nhập tới 25,4%.
    • Pholphirul (2017) tại Thái Lan chỉ ra mức thiệt hại thu nhập do không phù hợp trình độ là 18,6% và trái chuyên môn là 7,2%. Tao và Hung (2014) tại Đài Loan phân tích mối liên hệ giữa xếp hạng trường đại học, năng lực cá nhân và nguy cơ làm việc không phù hợp.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  • Về mặt phương pháp luận xác định biến số: Khắc phục hạn chế của phương pháp tự đánh giá chủ quan bằng việc ứng dụng phương pháp phân tích công việc chuẩn tắc (Normative/Job Analysis method) theo tiêu chuẩn quốc tế của ILO và UNESCO.
  • Về mặt mô hình kinh tế lượng: Giải quyết triệt để tính nội sinh của biến việc làm không phù hợp phát sinh từ năng lực/tố chất không quan sát được của người lao động bằng mô hình Hồi quy chuyển đổi nội sinh (Endogenous Switching Regression - ESR) ước lượng thông qua phương pháp Hợp lý tối đa đầy đủ thông tin (FIML).
  • Về mặt cơ chế hình thành chênh lệch thu nhập: Ứng dụng phương pháp phân rã Oaxaca - Blinder để bóc tách rõ phần chênh lệch thu nhập giữa hai nhóm lao động là do đặc điểm năng lực (hiệu ứng nguồn lực) hay do chính trạng thái việc làm không phù hợp gây ra (hiệu ứng hệ số).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên khung lý thuyết nền tảng là Lý thuyết Vốn con người (Human Capital Theory) của Mincer (1958, 1974) và mô hình đầu tư vốn con người theo vòng đời của Ben-Porath. Phương trình Mincerian truyền thống có dạng:

$$\ln Y_i = \beta_0 + \beta_1 S_i + \beta_2 E_i + \beta_3 E_i^2 + \varepsilon_i$$

Trong đó:

  • $\ln Y_i$: Logarit tự nhiên của thu nhập cá nhân $i$.
  • $S_i$: Số năm đi học tích lũy.
  • $E_i$: Số năm kinh nghiệm làm việc ($E = \text{Tuổi} - S - 6$).
  • $E_i^2$: Số năm kinh nghiệm bình phương.
  • $\beta_1$: Suất sinh lời từ giáo dục (tỷ lệ phần trăm thu nhập tăng thêm khi tích lũy thêm một năm học).
  • $\beta_2, \beta_3$: Tác động biên của kinh nghiệm làm việc tích lũy qua quá trình làm việc ($\beta_2 > 0, \beta_3 < 0$).

Khi tích hợp tình trạng việc làm không phù hợp, luận án phát triển khung phân tích theo tiếp cận tiêu chuẩn (Montt, 2015; Sloane, 2020):

  • Phân loại nghề nghiệp: Dựa trên Tiêu chuẩn Phân loại Nghề nghiệp Quốc tế ISCO-08 của ILO với 10 nhóm chính và 4 cấp độ kỹ năng.
  • Phân loại giáo dục: Dựa trên Tiêu chuẩn Phân loại Giáo dục Quốc tế ISCED-97 và ISCED-11 của UNESCO.
Cấp độ kỹ năng (ISCO-08) Nhóm chính nghề nghiệp (ISCO-08) Bậc trình độ giáo dục (ISCED-97) Bậc học tương ứng tại Việt Nam
Cấp độ 4 Nhóm 1 (Nhà quản lý), Nhóm 2 (Nhà chuyên môn bậc cao) Bậc 5a, 6 Đại học, Thạc sĩ, Tiến sĩ
Cấp độ 3 Nhóm 1 (phụ nhóm 14), Nhóm 3 (Nhà chuyên môn bậc trung) Bậc 5b Cao đẳng kỹ thuật nghiệp vụ, Cao đẳng nghề
Cấp độ 2 Nhóm 4 (Nhân viên văn phòng), Nhóm 5 (Dịch vụ & bán hàng), Nhóm 6 (Nông lâm thủy sản), Nhóm 7 (Thủ công), Nhóm 8 (Vận hành máy móc) Bậc 2, 3, 4 Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Trung cấp chuyên nghiệp, Trung cấp nghề
Cấp độ 1 Nhóm 9 (Lao động giản đơn) Bậc 1 Tiểu học

Ghi chú: Nhóm 0 (Lực lượng quân đội) bao gồm các cấp độ kỹ năng 1, 2 và 4.

Ma trận xác định việc làm phù hợp theo lĩnh vực đào tạo được thiết lập thông qua đối chiếu mã nghề nghiệp ISCO-08 (3 chữ số) với 8 nhóm lĩnh vực đào tạo ISCED:

  1. Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên.
  2. Nghệ thuật và Nhân văn.
  3. Khoa học xã hội, kinh doanh và luật.
  4. Khoa học, Toán và Công nghệ thông tin.
  5. Kỹ thuật, Công nghệ, Kiến trúc và Xây dựng.
  6. Nông Lâm nghiệp, Thủy sản và Thú y.
  7. Sức khỏe và dịch vụ xã hội.
  8. Dịch vụ.

Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật phân tích

Luận án áp dụng hoàn toàn phương pháp định lượng với các kỹ thuật thống kê và mô hình kinh tế lượng chuyên sâu:

  1. Phương pháp thống kê mô tả: Phân tích phân bố tần số, bảng chéo, đồ thị Boxplot và đồ thị diễu hành thu nhập Pen's Parade để so sánh phân phối thu nhập giữa các nhóm việc làm phù hợp và không phù hợp.
  2. Ước lượng OLS (Bình phương nhỏ nhất cổ điển): Ước lượng hàm Mincer mở rộng có biến giả việc làm không phù hợp và biến tương tác giữa việc làm không phù hợp với số năm đi học và kinh nghiệm.
  3. Kiểm định tính nội sinh Durbin - Wu - Hausman (DWH): Đánh giá tính nội sinh của biến việc làm không phù hợp.
  4. Mô hình Hồi quy chuyển đổi nội sinh (Endogenous Switching Regression - ESR):
    • Phương trình chọn lọc (Selection equation - Giai đoạn 1): Mô hình Probit xác định xác suất cá nhân rơi vào trạng thái việc làm không phù hợp ($I_i^* = \gamma Z_i + u_i$).
    • Hệ phương trình thu nhập (Regime equations - Giai đoạn 2):
      • Chế độ 1 (Việc làm phù hợp - $I_i = 0$): $\ln Y_{0i} = \beta_0 X_{0i} + \varepsilon_{0i}$
      • Chế độ 2 (Việc làm không phù hợp - $I_i = 1$): $\ln Y_{1i} = \beta_1 X_{1i} + \varepsilon_{1i}$
    • Phương pháp ước lượng: Sử dụng phương pháp Hợp lý tối đa đầy đủ thông tin (FIML) để ước lượng đồng thời phương trình chọn lọc và hai phương trình thu nhập, kiểm soát hệ số tương quan giữa phần dư ($\rho_0 = \text{corr}(u_i, \varepsilon_{0i})$ và $\rho_1 = \text{corr}(u_i, \varepsilon_{1i})$).
  5. Phương pháp phân rã Oaxaca - Blinder: Phân rã khoảng cách thu nhập bình quân giữa nhóm làm việc phù hợp ($F$) và không phù hợp ($M$):

$$\overline{\ln Y_F} - \overline{\ln Y_M} = \underbrace{(\overline{X_F} - \overline{X_M})\hat{\beta}F}{\text{Hiệu ứng nguồn lực/đặc điểm (Endowment Effect)}} + \underbrace{\overline{X_M}(\hat{\beta}_F - \hat{\beta}M)}{\text{Hiệu ứng hệ số/xử lý (Coefficient Effect)}}$$

Nguồn số liệu nghiên cứu

Luận án sử dụng bộ số liệu Điều tra Lao động Việc làm năm 2019 (LĐVL 2019) do Tổng cục Thống kê Việt Nam thu thập trên phạm vi toàn quốc. Đây là bộ dữ liệu đại diện quốc gia chứa đầy đủ thông tin chi tiết về mã nghề nghiệp thực tế (ISCO-08), trình độ bằng cấp (ISCED), lĩnh vực đào tạo chuyên môn, tiền lương/thu nhập thực tế hàng tháng, số giờ làm việc, loại hợp đồng lao động, khu vực kinh tế và các đặc trưng nhân khẩu học. Mẫu nghiên cứu phục vụ phân tích kinh tế lượng được làm sạch và chọn lọc đối với nhóm lao động làm công ăn lương có thu nhập dương và đầy đủ thông tin nghề nghiệp.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc làm không phù hợp và suất sinh lời từ giáo dục. Tác giả phân định rõ hai cách tiếp cận đo lường việc làm không phù hợp: tiếp cận theo nhận thức (tự đánh giá trực tiếp/gián tiếp) và tiếp cận theo tiêu chuẩn (phân tích công việc chuẩn tắc hoặc thống kê thực hành). Luận án khẳng định tiếp cận chuẩn tắc theo ISCO-08 và ISCED có tính khách quan vượt trội, khắc phục được sai số do thiên kiến cá nhân.

Chương này cũng thiết lập cơ sở toán học của hàm thu nhập Mincer bắt nguồn từ mô hình tối ưu hóa vòng đời Ben-Porath; tổng quan toàn diện các nghiên cứu quốc tế về tổn thất thu nhập do làm việc trái ngành và thừa trình độ (Robst, 2007b; Montt, 2015; Caroleo và Pastore, 2018); tổng hợp các công trình tại Việt Nam (Moock và cộng sự, 2003; Doan và cộng sự, 2018; Tran và cộng sự, 2019a). Từ đó, chương 1 xác lập khung lý luận chứng minh rằng người làm việc không phù hợp không thể phát huy đầy đủ vốn con người tích lũy, dẫn đến việc người sử dụng lao động không trả công cho các kỹ năng dư thừa/không sử dụng, làm suy giảm suất sinh lời từ giáo dục.

Chương 2: Số liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết quy trình xử lý dữ liệu từ bộ số liệu Điều tra LĐVL 2019 để tạo các biến việc làm không phù hợp theo chiều dọc, chiều ngang và biến tổng hợp. Chương này chỉ rõ cấu trúc kinh tế lượng của mô hình hàm thu nhập mở rộng và thiết lập chi tiết quy trình kiểm định tính nội sinh qua thủ tục Durbin-Wu-Hausman.

Để giải quyết tính nội sinh do biến năng lực tiềm ẩn bị bỏ sót trong hàm thu nhập, chương 2 xây dựng chi tiết mô hình Hồi quy chuyển đổi nội sinh (ESR). Tác giả thiết lập hàm hợp lý đồng thời cho phương pháp FIML nhằm thu được ước lượng vững và hiệu quả cho các tham số ở cả hai trạng thái việc làm. Ngoài ra, chương 2 trình bày khung toán học của phương pháp phân rã Oaxaca - Blinder hai thành phần và ba thành phần để định lượng nguồn gốc gây ra khoảng cách thu nhập giữa hai nhóm lao động.

Chương 3: Thực trạng và tác động của việc làm không phù hợp tới thu nhập của người lao động

Chương 3 tập trung phân tích thực trạng việc làm không phù hợp tại Việt Nam trong năm 2019 thông qua thống kê mô tả:

  • Tỷ lệ việc làm không phù hợp: Phân tích thực trạng việc làm không phù hợp trên hai phương diện trình độ và lĩnh vực chuyên môn. Tỷ lệ này có sự chênh lệch rõ rệt theo giới tính, độ tuổi, loại hình cơ sở kinh tế, khu vực thành thị/nông thôn và 6 vùng kinh tế - xã hội. Tỷ lệ làm việc không phù hợp ở các lĩnh vực như Nghệ thuật, Nhân văn hoặc Nông lâm thủy sản có xu hướng cao hơn các ngành có tính đặc thù kỹ thuật chặt chẽ như Y tế/Sức khỏe.
  • Phân phối và chênh lệch thu nhập: Phân tích dữ liệu mô tả chỉ ra khoảng cách thu nhập rõ rệt giữa hai nhóm. Người lao động có việc làm phù hợp có mức thu nhập trung bình và trung vị cao hơn đáng kể so với người làm việc không phù hợp ở hầu hết các bậc học và lĩnh vực đào tạo. Đồ thị Boxplot và đường phân phối Pen's Parade minh chứng sự vượt trội về mức thu nhập của nhóm làm việc đúng chuyên môn và trình độ trên toàn bộ dải phân phối thu nhập.

Chương 4: Đánh giá tác động của việc làm không phù hợp tới suất sinh lời từ giáo dục

Chương 4 là chương trọng tâm về mặt thực nghiệm kinh tế lượng của luận án:

  • Ước lượng OLS và kiểm định nội sinh: Ước lượng OLS cho thấy hệ số của biến việc làm không phù hợp mang dấu âm có ý nghĩa thống kê, phản ánh tác động tiêu cực đến thu nhập. Tuy nhiên, kiểm định Durbin-Wu-Hausman (DWH) bác bỏ giả thuyết $H_0$, xác nhận biến việc làm không phù hợp là biến nội sinh, do đó các ước lượng OLS bị chệch.
  • Ước lượng mô hình ESR bằng phương pháp FIML: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh khẳng định sự tồn tại của hiệu ứng chọn mẫu và tính nội sinh. Mô hình bóc tách hàm thu nhập Mincer riêng biệt cho hai trạng thái:
    • Suất sinh lời từ mỗi năm đi học của nhóm lao động làm việc phù hợp cao hơn rõ rệt so với nhóm làm việc không phù hợp.
    • Tác động biên của kinh nghiệm làm việc lên thu nhập cũng có sự khác biệt giữa hai chế độ việc làm.
  • Kết quả phân rã Oaxaca - Blinder: Phân rã khoảng cách thu nhập chỉ ra rằng thành phần lớn nhất tạo nên sự chênh lệch thu nhập giữa hai nhóm người lao động là hiệu ứng hệ số (coefficient effect) chứ không phải do khác biệt về các đặc điểm năng lực sẵn có (endowment effect). Điều này chứng minh rằng chính việc rơi vào trạng thái việc làm không phù hợp là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự sụt giảm thu nhập và suy giảm suất sinh lời từ giáo dục của người lao động.

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Chương 5 tổng kết toàn bộ các phát hiện chính từ kết quả thực nghiệm, liên hệ với bối cảnh chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, chương này đề xuất hệ thống khuyến nghị chính sách vĩ mô cho các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), các cơ sở giáo dục đại học/nghề nghiệp và bản thân người học. Cuối cùng, chương 5 thẳng thắn chỉ ra các giới hạn của nghiên cứu và đề xuất các hướng phát triển trong tương lai.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và học thuật

  1. Mở rộng hàm thu nhập Mincer kết hợp xử lý biến giả nội sinh: Luận án đóng góp vào cơ sở lý luận bằng việc tích hợp đồng thời hai khía cạnh của việc làm không phù hợp (chiều dọc và chiều ngang) vào hàm thu nhập vốn con người Mincer trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển đổi.
  2. Kiểm định và xử lý triệt để tính nội sinh bằng mô hình ESR: Luận án đã kiểm định thực nghiệm và khẳng định tính chất nội sinh của tình trạng việc làm không phù hợp tại Việt Nam; từ đó áp dụng thành công mô hình Hồi quy chuyển đổi nội sinh (ESR) với kỹ thuật ước lượng FIML để thu được các ước lượng không chệch và vững của suất sinh lời từ giáo dục cho từng trạng thái việc làm.
  3. Làm rõ cơ chế tổn thất thu nhập bằng phân rã Oaxaca - Blinder: Luận án chứng minh bằng định lượng rằng phần lớn khoảng cách thu nhập bắt nguồn từ hiệu ứng hệ số (sự đối xử/định giá của thị trường đối với trạng thái việc làm không phù hợp) chứ không phải do sự thua kém về các đặc tính nền tảng của bản thân người lao động.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Bức tranh toàn diện theo chuẩn quốc tế: Cung cấp số liệu thực nghiệm cập nhật và có tính đại diện cao về tình trạng việc làm không phù hợp tại 63 tỉnh thành Việt Nam năm 2019 dựa trên chuẩn phân loại quốc tế ISCO-08 và ISCED.
  2. Bằng chứng về sự suy giảm suất sinh lời: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng rằng làm việc trái ngành hoặc không đúng trình độ đào tạo làm suy giảm đáng kể suất sinh lời từ đầu tư giáo dục của cá nhân.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ GD&ĐT, Bộ LĐ-TB&XH):
    • Xây dựng hệ thống dự báo nhu cầu thị trường lao động trung và dài hạn theo chuẩn ISCO để định hướng chỉ tiêu tuyển sinh quốc gia, hạn chế hiện tượng dư thừa cục bộ ở một số ngành học.
    • Hoàn thiện Khung trình độ quốc gia đồng bộ với các tiêu chuẩn nghề nghiệp quốc tế nhằm tăng cường tính minh bạch và khả năng công nhận kỹ năng.
  • Đối với các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp:
    • Cải tiến chương trình đào tạo theo hướng tăng cường khả năng chuyển đổi kỹ năng (skill transferability), trang bị kỹ năng mềm và kỹ năng số bên cạnh kiến thức chuyên ngành chuyên sâu.
    • Tăng cường liên kết thực chất giữa nhà trường và doanh nghiệp trong việc thiết kế chuẩn đầu ra và tổ chức thực tập, thực tế nghề nghiệp.
  • Đối với người học và người lao động:
    • Nâng cao nhận thức về định hướng nghề nghiệp trước khi lựa chọn ngành học; chủ động tích lũy các kỹ năng bổ trợ để tăng khả năng thích ứng linh hoạt trên thị trường lao động.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

Dựa trên phạm vi dữ liệu và phương pháp được tác giả trình bày trong văn bản:

  1. Hạn chế về tính chất dữ liệu cắt ngang: Luận án sử dụng bộ số liệu Điều tra Lao động Việc làm năm 2019 là dữ liệu chéo (cross-sectional data) tại một thời điểm, chưa theo dõi được tiến trình nghề nghiệp theo chuỗi thời gian (panel data) của cùng một cá nhân trong suốt vòng đời lao động.
  2. Hạn chế về biến quan sát: Do hạn chế của bảng câu hỏi điều tra LĐVL, mô hình nghiên cứu chưa thể kiểm soát được một số biến số vi mô khác như hoàn cảnh kinh tế hộ gia đình gốc, chất lượng chi tiết của từng trường đại học, tình trạng sức khỏe thực tế, hoặc các thước đo trực tiếp về chỉ số thông minh/tố chất cá nhân.
  3. Giới hạn phạm vi đối tượng phân tích: Luận án chỉ tập trung vào nhóm lao động làm công ăn lương có thu nhập chính thức; các nhóm lao động tự làm, chủ cơ sở kinh doanh hoặc lao động gia đình không hưởng lương chưa được đưa vào mô hình phân tích ma trận việc làm phù hợp do thiếu thông tin chuẩn hóa theo mã ngành nghề tương thích.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Khai thác dữ liệu bảng (panel data) để phân tích động thái chuyển dịch việc làm từ không phù hợp sang phù hợp theo thời gian và đánh giá mức độ suy giảm kỹ năng (skill depreciation).
  • Mở rộng phân tích tác động của việc làm không phù hợp sang khu vực kinh tế phi chính thức và nhóm lao động tự doanh.
  • Đưa thêm các biến đo lường chất lượng cơ sở đào tạo và tác động của chuyển đổi số, tự động hóa tới mức độ bão hòa việc làm của từng ngành đào tạo cụ thể.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kinh tế học, Toán kinh tế, Kinh tế lao động: Tham khảo quy trình ứng dụng kinh tế lượng vi mô nâng cao, đặc biệt là kỹ thuật xử lý biến nội sinh bằng mô hình Hồi quy chuyển đổi nội sinh (ESR) qua lệnh FIML trong phần mềm kinh tế lượng và kỹ thuật phân rã Oaxaca - Blinder.
  • Các nhà hoạch định chính sách giáo dục và lao động: Sử dụng các kết quả ước lượng thực nghiệm về tổn thất thu nhập và tỷ lệ không phù hợp theo ngành nghề để làm căn cứ khoa học cho việc quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, phân bổ ngân sách đào tạo và điều tiết cung - cầu nhân lực.
  • Lãnh đạo các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng: Tham khảo phương pháp đối chiếu ma trận giữa mã ngành đào tạo ISCED và nhóm nghề ISCO-08 để rà soát, tái cấu trúc chương trình đào tạo đáp ứng sát yêu cầu của doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định tình trạng "việc làm không phù hợp" dựa trên những tiêu chuẩn cụ thể nào?

Luận án áp dụng phương pháp phân tích công việc chuẩn tắc (Normative/Job Analysis method) theo tiếp cận tiêu chuẩn khách quan. Cụ thể, tác giả thiết lập ma trận đối chiếu giữa Phân loại Nghề nghiệp Tiêu chuẩn Quốc tế (ISCO-08 của ILO) gồm 10 nhóm chính với Phân loại Giáo dục Tiêu chuẩn Quốc tế (ISCED-97 và ISCED-11 của UNESCO) trên hai khía cạnh:

  • Theo chiều dọc (trình độ): Đối chiếu 4 cấp độ kỹ năng của ISCO-08 với 7 bậc trình độ đào tạo của ISCED để xác định 3 trạng thái: phù hợp trình độ, thừa trình độ và thiếu trình độ.
  • Theo chiều ngang (chuyên môn): Đối chiếu mã nghề nghiệp ISCO-08 (3 chữ số) với 8 lĩnh vực đào tạo ISCED theo chuẩn phân loại của Montt (2015) để xác định việc làm đúng ngành hoặc trái ngành đào tạo.

2. Tại sao biến "việc làm không phù hợp" lại mang tính nội sinh trong mô hình hàm thu nhập Mincer?

Việc một cá nhân có tìm được việc làm phù hợp hay phải chấp nhận làm việc không phù hợp không chỉ phụ thuộc vào điều kiện thị trường khách quan mà còn chịu sự chi phối bởi các yếu tố chủ quan không quan sát được như năng lực bẩm sinh, tố chất, động lực làm việc và kỹ năng mềm. Những yếu tố không quan sát được này vừa tác động trực tiếp đến xác suất rơi vào trạng thái việc làm không phù hợp, vừa tác động trực tiếp đến thu nhập của cá nhân trong sai số ngẫu nhiên của mô hình. Kiểm định Durbin-Wu-Hausman trong luận án đã bác bỏ giả thuyết biến ngoại sinh, xác nhận tính nội sinh cần phải xử lý.

3. Mô hình Hồi quy chuyển đổi nội sinh (ESR) giải quyết được vấn đề gì so với ước lượng OLS thông thường?

Ước lượng OLS thông thường khi có biến giả nội sinh sẽ dẫn đến các hệ số ước lượng bị chệch và không vững do vi phạm giả thiết tính trực giao giữa biến giải thích và phần dư. Mô hình ESR khắc phục triệt để vấn đề này bằng cách:

  • Ước lượng đồng thời phương trình chọn lọc (Selection equation - xác định xác suất rơi vào việc làm không phù hợp) và hai phương trình thu nhập riêng biệt cho từng trạng thái việc làm (phù hợp và không phù hợp).
  • Sử dụng phương pháp Hợp lý tối đa đầy đủ thông tin (FIML) để kiểm soát tương quan giữa phần dư của phương trình chọn lọc và các phương trình chế độ thu nhập, từ đó đưa ra ước lượng không chệch cho suất sinh lời từ giáo dục.

4. Kết quả phân rã Oaxaca - Blinder chỉ ra nguyên nhân chủ yếu của khoảng cách thu nhập là gì?

Kết quả phân rã Oaxaca - Blinder chỉ ra rằng sự chênh lệch thu nhập giữa nhóm lao động làm việc phù hợp và nhóm làm việc không phù hợp chủ yếu xuất phát từ hiệu ứng hệ số (coefficient effect) chứ không phải do hiệu ứng nguồn lực/đặc điểm (endowment effect). Điều này đồng nghĩa với việc sự sụt giảm thu nhập của nhóm lao động không phù hợp phần lớn là do thị trường lao động trả công thấp hơn cho những kỹ năng không được sử dụng đúng vị trí việc làm, chứ không phải do bản thân nhóm lao động này có trình độ hay năng lực nền tảng kém hơn.

5. Suất sinh lời từ giáo dục tại Việt Nam được ghi nhận như thế nào qua các giai đoạn nghiên cứu trước đây?

Theo các nghiên cứu được luận án tổng quan:

  • Giai đoạn 1991–1992: Moock và cộng sự (2003) ước lượng suất sinh lời trung bình qua OLS đạt 4,8%/năm học.
  • Giai đoạn 1998–2014: Doan và cộng sự (2018) chỉ ra suất sinh lời tăng dần từ 2,5% (năm 1998) lên đỉnh điểm 7,6% (năm 2008), sau đó giảm dần về mức 5,2% (năm 2014) qua phương pháp OLS (ước lượng Heckman lần lượt là 2,7%, 8,5% và 5,4%).
  • Giai đoạn 2010–2014: Patrinos và cộng sự (2018) ghi nhận suất sinh lời bình quân của Việt Nam đạt khoảng 9% - 10%, trong đó giáo dục bậc đại học có suất sinh lời vượt trội đạt 18% - 20%.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Vũ Thị Bích Ngọc đã đánh giá thực nghiệm tác động của việc làm không phù hợp tới suất sinh lời từ giáo dục tại Việt Nam thông qua cách tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế ISCO-08 và ISCED. Bằng việc áp dụng mô hình Hồi quy chuyển đổi nội sinh (ESR) và kỹ thuật phân rã Oaxaca - Blinder trên dữ liệu Điều tra Lao động Việc làm năm 2019, luận án đã xử lý vấn đề nội sinh của biến việc làm không phù hợp và cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định tác động tiêu cực của việc làm trái ngành, trái trình độ lên thu nhập cá nhân. Các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các khuyến nghị điều chỉnh chính sách giáo dục đại học, phân bổ ngân sách đào tạo nghề và nâng cao khả năng thích ứng kỹ năng của lực lượng lao động trong nền kinh tế chuyển đổi.