Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu Đưa ra các yếu tố tác động và mô hình dự đoán về KQHT của sinh viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM, đổng hợp một số nghiên cứu trước đây của các tác giả. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chỉ ra khung phương pháp nghiên cứu, thiết lập các biến định tính – định lượng và mô hình hồi quy Chương 4: Kết quả nghiên cứu Thống kê mô tả các biến định tính và định lượng, lựa chọn mô hình phù hợp, giải thích ý nghĩa hồi quy, kiểm định các khuyết tật của mô hình và mức ảnh hưởng của các biến định tính. Chương 5:Kết luận Đánh giá lại các yếu tố và đưa ra giải pháp 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 2.1 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 2.1 Yếu tố về giới tính Giới tính là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học, có sẵn từ khi sinh ra, đồng nhất và không biến đổi (trừ trường hợp có sự can thiệp của y học). Ví dụ nam giới có thể làm thụ thai, phụ nữ có thể sinh con và cho con bú.
Mức độ tư duy của Nam và Nữ luôn có sự khác biệt với nhau. Vì vậy điểm trung bình học tập cũng do đó và khác nhau của hai phái cũng sẽ khác nhau.2 Yếu tố về năm học Năm học là khoảng thời gian mà sinh viên phải thực hiện kế hoạch học vụ của bản thân đế đáp ứng tiếp thu đủ kiến thức lần kỹ năng phục vụ trong công việc sau này. Tùy theo lộ trình của sinh viên và đặc trưng những ngành đào tạo cũng như chương trình vốn có của trường đại học nơi sinh viên theo học. Trong 01 năm học, sẽ có các học kỳ sau: - 02 Học kỳ chính (Học kỳ 1 và Học kỳ 2): đây là học kỳ bắt buộc trong lộ trình đào tạo, mỗi học kỳ sẽ bao gồm 15 tuần thực học và 03 tuần thi tập trung.
- 01 Học kỳ Hè: đây là học kỳ phụ, sinh viên chỉ đăng ký khi có nguyện vọng học, học kỳ này sẽ có 07 tuần thực học và 02 tuần thi tập trung. Điểm số của học kỳ Hè sẽ tham gia vào tính điểm Trung bình học kỳ của Học kỳ 2 cùng năm học. - 02 Học kỳ Dự thính: đây là học kỳ phụ, sinh viên chỉ đăng ký khi có nguyện vọng học, học kỳ này sẽ gồm 10 tuần thực học và 02 tuần thi tập trung. Lưu ý: điểm số môn học trong học kỳ dự thính sẽ không tham gia vào tính điểm Trung bình học kỳ chính, chỉ có môn học có điểm đạt mới được tích lũy vào điểm bảo lưu.
02 tuần trước khi bắt đầu của các Học kỳ chính thức rất quan trọng, trường hợp sinh viên có nguyện vọng Nghỉ học tạm thời, Thôi học hoặc nộp các Chứng chỉ để Miễn học các môn học tương ứng thì phải thực hiện trong thời gian này, để không bị tính học phí cho các môn học đã có kết quả đăng ký thành công. Kết thúc thời gian trên, sinh viên vẫn có thể nộp Đơn đề nghị nhưng phải hoàn thành nghĩa vụ học phí học kỳ. 6 Năm thứ nhất và năm hai, khối lượng kiến thức chuyên ngành chưa nhiều, chủ yếu là các môn cơ sở ngành và các môn đại cương. Sang năm thứ ba là thời điểm bạn học nhiều môn chuyên ngành, và mong muốn áp dụng kiến thức vào thực tế.
Năm thứ tư sẽ vô cùng bận rộn với khóa luận tốt nghiệp và tìm kiếm công việc sau khi ra trường. Vì thế năm học càng cao thì lượng kiến thức chuyên ngành và dộ khó càng tăng nên điểm trung bình của mỗi năm cũng sẽ khác nhau. Biểu đồ kế hoạch giảng dạy (Nguồn: ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.3 Yếu tố về số tín chỉ đăng kí Tín chỉ là đơn vị dùng để đo lường khối lượng học tập. Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết, 30 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận, bằng 60 giờ thực tập tại cơ sở hoặc bằng 45 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn, đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp.
Để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị ngoài giờ lên lớp. Số tín chỉ đăng ký học tối thiểu, tối đa cho mỗi học kỳ chính do từng chương trình quy định nhưng không ít hơn 14 (trừ học kỳ cuối khóa học). Đăng ký 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường. Đăng ký 10 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu.
Không quy định khối lượng học tập tối thiểu đối với sinh viên ở học kỳ phụ. Số tín chỉ phải đăng ký trong học kỳ nhiều hay ít cũng sẽ ảnh hưởng đến điểm trung bình học tập. Đăng ký ít môn bạn sẽ có nhiều thời gian hơn cho 1 môn và ngược lại, việc lựa chọn tín chỉ sẽ tuỳ vào năng lực, khả năng tài chánh và việc sắp xếp thời gian phù hợp với các bạn sinh viên.4 Yếu tố về số giờ học tại nhà trong ngày Khái niệm về số giờ học tại nhà trong ngày là khoảng thời gian mà mỗi cá nhân sinh viên có thể trích ra tối đa nhất có thể để phục vụ cho việc tự tìm hiểu, nghiên cứu và làm bài tập tại nhà ngoài giờ học tập trên trường. Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM đang áp dụng phương pháp giảng dạy CDIO.
nên đòi hỏi số giờ học tập tại nhà của sinh viên phải gấp 2 lần số giờ tham gia học tập tại lớp. Vì vậy nếu nghiên cứu bài tại nhà tốt thì khi đến lớp bạn sẽ dễ tiếp thu hơn, từ đó có KQHT cao hơn.5 Yếu tố về số buổi nghỉ học trong kỳ Sự vắng mặt hay không tham dự một buổi học đầy đủ của một sinh viên trong một môn học thì được gọi là một buổi nghỉ. Quy định ở một số trường, nếu sinh viên vắng mặt trên 20% buổi học thì sẽ bị cấm thi môn đó. Khi nghỉ học một buổi bạn sẽ bị “lõm” đi một lượng kiến thức to lớn mà giảng viên mang lại trong ngày hôm đó.
Vì vậy việc nghỉ học quá nhiều buổi cũng ảnh hưởng đến điểm trung bình trong học tập.6 Làm thêm Việc làm thêm là một định nghĩa nhằm mô tả hay diễn đạt một công việc mang tính chất chất không chính thức, không thường xuyên, không cố định, không ổn định bên cạnh một công việc chính thức. Các công việc làm thêm, bán thời gian, part time thường kéo dài trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 giờ mỗi ngày hoặc ít hơn tùy vào tính chất của mỗi công việc. Việc làm thêm thường không cố định, đôi khi cũng không bắt buộc bạn phải đến công ty để làm, bạn có thể làm tại nhà, gia đình của bạn, bạn được lựa chọn môi trường và cách thức việc làm cũng như thời gian để bạn có thể làm việc. Việc làm thêm giúp sinh viên giao tiếp tốt và trang bị những kĩ năng mềm trong cuộc sống nhưng cũng có những ảnh hưởng nhất định đến thời gian học tập của các bạn dẫn đến ảnh hưởng điểm trung bình học tập.7 Việc học nhóm và đến thư viện tham khảo sách Việc học nhóm Học nhóm là việc một nhóm HSSV chủ động tổ chức gặp gỡ ở một địa địa cụ thể với mục đích nhằm trao đổi, học tập, làm bài tập để nâng cao hiệu quả trong việc học, ngoài những giờ học chính khóa trên lớp.
Học nhóm sẽ giúp bạn phát huy được mặt mạnh và cải thiện mặt còn chưa mạnh, rèn luyện tư duy phản biện qua sự bất đồng ý kiến, các thành viên trong nhóm sẽ lập luận, phân tích và thuyết phục các thành viên khác tin vào ý kiến của mình. Việc thực hành như thế có thể rèn luyện cho não khả năng tư duy nhanh hơn, kĩ năng lập luận phản biện và sáng tạo. 9 Là sinh viên được đào tạo theo phương thức tín chỉ chắc hẳn các bạn đã biết và quen với những khái niệm như: bài tập nhóm, thảo luận nhóm, làm việc theo nhóm. Học tập trong môi trường nhóm sẽ thúc đẩy sự tích cực học tập của cá nhân, tạo sự gắn kết trong một cộng đồng.
Trong khi làm việc nhóm, những mâu thuẫn sẽ nảy sinh từ đó sinh viên phải giải quyết “xung đột”. Từ đó, họ sẽ có khả năng giải quyết những mâu thuẫn, thuyết phục người khác trong những hoàn cảnh có thể bắt gặp trong cuộc sống sau này. Tinh thần học hỏi và khả năng lắng nghe người khác cũng sẽ là điều mà sinh viên sẽ học hỏi được. Những kĩ năng này là rất quan trọng khi các bạn bước ra môi trường làm việc và đây sẽ là tiền đề tốt để biết cách làm việc trong một môi trường tập thể.
Vì thế học nhóm cũng ảnh hưởng không nhỏ đến KQHT. Thói quen đến thư viện Thư viện là một kho sưu tập các nguồn thông tin, được chọn lựa bởi các chuyên gia và có thể được tiếp cận để tham khảo hay mượn, thường là trong một môi trường yên tĩnh phù hợp cho học tập. Trong tất cả các CSGD hiện nay thì đều trang bị cho mình một thư viện với quy mô tùy thuộc vào ngân sách cũng như cấp bậc của những cơ sở, với mục đích phục vụ nhu cầu tham khảo, tra cứu thông tin hay cũng là nơi lý tưởng phục vụ cho việc học tập tìm hiểu của HSSV. Thư viện có mục đích chính là hỗ trợ trong việc nghiên cứu và tìm hiểu của học sinh và nhân viên của CSGD.
Các thư viện này thường có tài liệu liên quan đến khóa học, như sách giáo khoa và bài luận. Chúng cũng có những tài nguyên khác ít thấy ở thư viện, như là máy tính, webcam, hay máy tính cầm tay. Thư viện đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp đỡ, hướng dẫn cho HSSV trong việc tự học, tự nghiên cứu. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của thư viện, một cơ quan văn hoá giáo dục ngoài nhà trường.
Việc đọc sách mang lại cho người đọc rất nhiều lợi ích như: giúp nâng cao kiến thức; bên cạnh đó cải thiện sự tập trung và tăng cường kỹ năng tư duy, phân tích; Vốn từ ngữ được mở rộng thông qua việc đọc sách. Ngoài ra, đọc sách là cũng một hình thức giải trí, 10 giảm căng thẳng sau những giờ học. Vì thế, thói quen này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến KQHT của sinh viên.