Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA DE TÀI LUẬN VĂN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nguồn nhân lực Khái niệm NNL hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế các nước trên thế giới. Tuy nhiên cho đến nay, quan niệm về vấn đề này hầu như chưa thống nhất.
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái nệm NNL: Theo giáo trình NNL của trường Dai học Lao động — Xã hội do Nguyễn Tiệp chủ biên, in năm 2005 thì : “NNL bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [25. Khái niệm này chi NNL với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. “NNL được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuôi lao động có kha năng lao động” [25, Tr. Khái niệm nay chi khả năng đảm đương lao động chính của xã hội.
Theo giáo trình kinh tế NNL của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh chủ biên, in năm 2008 thì: “NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chat và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [43, Tr. “NNL là một phạm trù dùng dé chỉ sức mạnh tiềm ân của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng va cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nên sản xuất xã hội” [43. Những khái niệm trên chỉ NNL ở phạm vi vĩ mô của nền kinh tế.
Tuy nhiên đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề phát triển NNL giảng viên. Vậy trong phạm vi tổ chức, NNL được hiểu như thế nào? Theo giáo trình Quản trị nhân lực, đại học kinh tế quốc dân do Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân chủ biên xuất bản năm 2004 thì khái niệm này được hiểu như sau: “NNL của một tổ chức bao gồm tat cả những người lao động làm việc trong tô chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thé lực và trí lực” [6, Tr8]. Như vậy, có rất nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về NNL. Trong luận văn nay khái nệm NNL được hiểu như sau: “NNL cua một tổ chức bao gom tat ca những người lao động làm việc trong tổ chức đó có trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng, thái độ đáp ứng yêu câu của tổ chức.
Sức mạnh của NNL trong tô chức là sức mạnh tông hop cua các ca nhân ”. Khái niệm nguồn nhân lực giảng viên Như đã trình bày ở trên, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển nói chung và kha năng lao động của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuôi lao động, có kha năng tham gia vào lao động sản xuất xã hội, là tông thé các yếu tố về thé lực, trí lực và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động được huy động trong quá trình lao động nói riêng. Từ khái niệm đó, chúng tôi hiểu khái niệm NNL giảng viên là: toàn bộ cán bộ làm công tác giảng dạy, nghiên cứu tại trường được biểu hiện thông qua số lượng, cơ cấu và chất lượng dao tạo. UNESCO quan niệm giảng viên không chỉ làm nhiệm vụ truyền thụ kiến thức đơn thuần mà còn thực hiện chức năng tô chức và điều khiển các hoạt động giáo dục và dạy học để hướng tới mục tiêu hình thành nhân cách cho người học; đồng thời giảng viên phải chủ động, linh hoạt đổi mới hoạt động giảng dạy nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên.
Phương pháp dạy học phải được chuyên từ kiểu dạy thông báo đồng loạt” sang kiểu dạy hoạt động phân hóa”. Giảng viên không còn là người truyền thụ tri thức, mà là người tư vấn, hướng dẫn, gợi mở, nêu vấn đề, tô chức hoạt động nhận thức, tìm tòi, tranh luận của người học [90, tr12]. Bên cạnh đó giảng viên còn có vai trò là nhà giáo dục biết kết hợp việc giảng dạy tri thức với việc giáo dục giá trị, hình thành thái độ và phát triển tư duy sáng tạo cho người học. Với vai trò là nhà khoa học, giảng viên còn phải thực hiện nhiệm vụ NCKH chuyền giao công nghệ, lý giải khoa học các van dé của tự nhiên, xã hội mà người học quan tâm muốn hiểu biết đến.
Thực tế cho thấy giảng viên còn là những chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn của mình từ việc thiết kế nội dung chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình, bài giảng, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học, phản biện, thâm định, kiến giải những vấn đề khoa học có liên quan đến lĩnh vực chuyên môn mà giảng viên đang giảng dạy và hướng dẫn người học. Đồng thời với vai trò là nhà tư vấn, giảng viên còn phải có khả năng giúp người học xây dựng mục tiêu, hình thành động cơ, thái độ học tập và dẫn dắt, rèn luyện người học biết ứng phó trước những thách thức, rào cản cuộc sống và hoàn cảnh khó khăn dé thực hiện mục tiêu đã đặt ra. Đội ngũ giảng viên luôn được xem là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo NNL. Tại Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nhân dân cách mạng Lào đã khang định: Trong yêu cầu đồi mới giáo dục thì đội ngũ cán bộ quản ly giáo dục và nhà giáo ở các cấp học có vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng giáo duc.
Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Cho đến nay phát triển NNL có nhiều khái niệm khác nhau ở góc độ vi mô và vi mô như sau: Theo sách phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo kinh nghiệm Đông Á của Viện Kinh tế thế giới xuất bản năm 2003: “Phát triển NNL, xét từ góc độ một đất 12 nước là quá trình tạo dựng lực lượng lao động năng động có kỹ năng và sử dụng có hiệu quả, xét từ góc độ cá nhân là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động va thu nhập. Phát triển NNL là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất. Kiến thức có được nhờ quá trình đảo tạo và tiếp thu kinh nghiệm, trong khi đó thể lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y té” [42, Tr 16-17]. Khái niệm nay xem xét phát triển NNL của đất nước, từ đó khuyến nghị cho nhà nước những chính sách về giáo dục, dao tạo, y tế dé phát triển NNL ở tam vĩ mô.
Bùi Văn Nhơn (2012) quan niệm: “phát triển NNL là tổng thé các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nham hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho NNL nhằm đáp ứng đòi hỏi về NNL cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển”, Trong nhận định này, chất lượng NNL được hiểu bao gồm: (1) thé lực của NNL (thê chất và tinh thần); (2) trí lực của NNL (trình độ văn hóa, tay nghé, kỹ năng của người lao động); (3) phẩm chat tâm ly xã hội (tinh kỷ luật, tự giác, trách nhiệm, tinh thần hợp tác, tác phong công nghiệp. Nhận định này nhắn mạnh đến các hình thức triển khai, cách thức thực hiện cùng với những giải pháp chính sách nhằm nâng cao chất lượng NNL, phục vu cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Trong khái niệm nay chất lượng NNL được giải thích như sau: “Thể lực của NNL: sức khỏe cơ thé va sức khỏe tinh thần” [6, Tr. “Tri lực của NNL: trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động” [6, Tr.
“Pham chat tâm lý xã hội: kỷ luật, tự giác, có tinh than hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao. Theo giáo trình Kinh tế NNL, trường đại học Kinh tế Quốc dân do Trần Xuân Cau chủ biên năm 2008: “Phát triển NNL là quá trình phát triển thé lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá; truyền thống lịch sử. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển NNL là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) NNL và nâng cao về mặt chất lượng NNL, tạo ra co cau NNL ngày càng hợp lý. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển NNL là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng lực xã hội (thê lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao” [43, Tr 104].
Theo giáo trình Quản trị nhân lực, trường Đại học Kinh tế quốc dân, in năm 2004: “Phát trién NNL (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tô chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tao ra sự thay đổi hành vi nghè nghiệp của người lao động” [20, Tr. 13 Khái niệm này chưa nhắn mạnh đến mục tiêu cuối cùng của phát triển NNL là phát triển tổ chức, phát triển cá nhân người lao động. Theo khái niệm này thì nội dung phát triển NNL bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát trién. “Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập dé chuẩn bị cho con người bước vào một nghé nghiệp hoặc chuyền sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai.
Đào tạo (hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng): được hiểu là các hoạt động học tập nham giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động năm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động dé thực hiện nhiệm vu lao động có hiệu quả hon. Phat triển: là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tô chức” [20, Tr. Như vậy hoạt động giáo dục, dao tao và phát triển đều được hiểu là các hoạt động học tập với những mục tiêu khác nhau.