Chương 1: Cơ sở lý luận về di cư Phần này trình bày một cách tổng quan về những lý luận chung về di cư bao gồm các khái niệm, hình thức, đặc điểm và nguyên nhân dẫn đến di cư. Chương 2: Thực trạng di cư nông thôn – thành thị những năm gần đây Phần này nêu rõ tình hình di cư chung trong cả nước và một số tỉnh trong những năm gần đây. Cụ thể là hai thành phố thu hút lượng lao động lớn nhất nước là Hà Nội và Hồ Chí Minh. Chương 3: Phân tích các yếu tố tác động đến di cư Dựa vào các bộ số liệu, các dữ kiện trong các cuộc điều tra và sự trợ giúp của phần mềm, phần này xây dựng mô hình về di cư và phân tích ảnh hưởng của một vài yếu tố bằng mô hình kinh tế lượng, từ đó đưa ra những đề xuất thích hợp.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy Nguyễn Khắc Minh, cô Nguyễn Thị Minh và các anh chị trong Nhóm tư vấn chính sách của Bộ Tài chính đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập này. Tuy nhiên, do kiến thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn còn non yếu, thời gian nghiên cứu chưa nhiều cùng với các hạn chế về mặt số liệu nên chuyên đề thực tập của em không tránh khỏi những khiếm khuyết và sơ sài. Em mong được sự chỉ bảo của các thầy cô để chuyên đề thực tập của em hoàn thành tốt hơn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI CƯ 1.
Một số vấn đề lý luận về di cư 1. Khái niệm về di cư Trong nghiên cứu về nhân khẩu học cũng như địa lý dân cư chưa có một định nghĩa thống nhất về di cư. Tuy nhiên cũng có một số ý kiến khác nhau về khái niệm di cư. Các nhà nhân chủng học cho rằng nếu những ai thay đổi nơi sinh sống thường xuyên của mình trong một giai đoạn nhất định, cả về biên giới hành chính thì họ là người di cư.
Như vậy có thể phân biệt hai khái niệm cơ bản “di cư” và “di chuyển”. Người di chuyển là thay đổi chỗ ở, người di cư là di chuyển và gia nhập một đơn vị hành chính mới. Theo khái niệm của Liên Hợp Quốc: Di cư là một sự di chuyển từ một đơn vị lãnh thổ này tới một đơn vị lãnh thổ khác, hoặc là sự di chuyển về khoảng cách tối thiểu quy định. Sự di chuyển này diễn ra trong một khoảng thời gian di dân xác định và được đặc trưng bởi nơi cư trú thường xuyên.
Để hiểu cặn kẽ nội dung di cư, cần phải hiểu một số khái niệm và thuật ngữ. - Tổng di cư: Là tổng của tất cả những người tham dự vào quá trình di cư của một khu vực, gồm di cư đi và di cư đến. Chính vì vậy nó là thước đo tổng dân cư ra vào một cộng đồng. Tổng di cư là một yếu tố rất quan trọng, nó cho ta thấy được sự thay đổi trong cơ cấu của cộng đồng dân cư vì tuy sự chênh lệch giữa người đi và người đến của một khu vực không lớn nhưng số lượng người đi và người đến lớn thì có thể nói cộng đồng dân cư tại khu vực đó sẽ có sự thay đổi lớn về cơ cấu.
8 - Di cư thuần tuý: Trong một giai đoạn nhất định nào đấy, một khu vực có thể tiếp nhận người di cư từ một nơi khác đến và đồng thời mất đi những người di cư của chính khu vực ấy. Sự chênh lệch giữa số người ra đi và số người đến được gọi là di cư thuần tuý. Khi số người ra đi nhiều hơn số người đến, cán cân di chuyển là âm. Còn di cư thuần tuý dương nếu số người đến nhiều hơn số người ra đi.
- Di cư đi và di cư đến: Mỗi hiện tượng di cư bao giờ cũng bao gồm hai mặt: Rời bỏ chỗ cũ và đến một nơi ở khác. Rời bỏ nơi cư trú gọi là di cư đi và đến một nơi cư trú khác gọi là di cư đến. - Nơi đi: Là nơi người đi rời bỏ hay nói cách khác là nơi sự di chuyển bắt đầu. - Nơi đến: Là nơi người di cư nhập vào hay ở đó sự di chuyển kết thúc ( là vùng cư trú cuối cùng trong khoảng di cư).
- Di dân gộp là con số tổng cộng bao gồm cả những người đến và đi của một vùng, nó đo lường toàn bộ số lượng dân số ( kể cả số người đi và đến ) trong một cộng đồng dân cư. - Di dân tịnh là sự chênh lệch giữa lượng dân cư chuyển đến và lượng dân cư chuyển đi trong một khoảng thời gian. Di dân tịnh có thể xảy ra theo tình huống di cư tịnh âm: khi số người chuyển đi lớn hơn số người chuyển đến và di dân tịnh dương: khi số người chuyển đến lớn hơn số người chuyển đi. - Dòng di dân và dòng dân ngược: Dòng di dân bao gồm những người ra đi và không quay trở lại nơi sinh sống ban đầu nữa,trong khi đó dòng di dân ngược bao gồm những người sau khi di chuyển đến một hay nhiều vùng khác nhau nhưng sau đó lại quay trở lại nơi ban đầu sinh sống.
9 - Sự di dân chênh lệch: Trong quá trình di dân luôn có sự chênh lệch giữa các nhóm di dân khác nhau về các yếu tố nhân khẩu, hoàn cảnh xã hội, kinh tế văn hóa…, vì vậy đối với những luồng di dân khác nhau sẽ có những sự khác biệt nhau trong cơ cấu thành phần của dân cư về nhiều mặt. - Di dân quốc tế và di dân nội địa: Di dân quốc tế là quá trình chuyển đổi nơi cư trú từ một quốc gia này sang một quốc gia khác, vượt qua ranh giới chính trị, còn di dân nội địa liên quan đến các cuộc chuyển đổi nơi cư trú nằm trong phạm vi của một quốc gia. - Di dân có tổ chức và di dân tự do: Di dân có tổ chức là loại di dân theo kế hoạch nhằm thực hiện các chính sách hay chiến lược do Nhà nước, chính phủ vạch ra nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ngắn hạn hoặc dài hạn nào đó, những người di dân thường nhận được sự tài trợ về mặt tài chính hoặc vật chất; di dân tự do được xem xét là dạng di dân không có tổ chức, và hoàn thành do người di cư quyết định ( tất cả mọi chi phí, thủ tục trong quá trình di chuyển, quá trình định cư, tìm kiếm việc làm mưu sinh…đều do người di cư tự lo lấy). Các hình thức di cư Di cư có nhiều dạng và hình thức khác nhau.
Petersen đã nêu ra một số dạng di cư được nhiều người công nhận bao gồm: * Di cư nguyên thủy: Loại di cư này gắn với những nhóm người không đủ khả năng chống chọi lại với thiên nhiên trong môi trường sống của mình. Chính vì vậy chúng ta thấy sự cạn kiệt về môi trường sống ở một khu vực thường dẫn đến việc di cư và thường là di cư của một nhóm người gắn liền với săn bắn và hái lượm thức ăn. Theo Petersen thì hiện tượng này thường 10 xảy ra một cách bất thường hoặc do hạn hán hoặc do sức ép của dân số hay vì đất đai canh tác bạc màu. * Di cư theo nhóm: Loại di cư này phổ biến từ thế kỉ XVII, thường là cuộc di cư của từng nhóm người.
Di cư nhóm là di cư của một bộ tộc hay nhóm người lớn hơn một gia đình. * Di cư tự do – cá nhân: Fairchild (1925) đã mô tả như sau: Việc di chuyển của cá nhân hay gia đình theo động cơ hay mục đích cá nhân, không có sự ép buộc hay hỗ trợ nào. Thường di cư từ quốc gia phát triển đến quốc gia phát triển khác với mục đích cư trú lâu dài. Hầu hết các cuộc di cư từ thế kỉ XVII được xem như thuộc loại di cư này, đặc biệt là các cuộc di cư đến vùng đất mới như Australia, New Zealand hay châu Mỹ.
* Di cư hạn chế: Hiện tượng di cư tự do dần được thay thế bằng di cư hạn chế. Từ đầu thế kỷ này nhiều đạo luật được thi hành để hạn chế việc di cư giữa các nước. Một số nước còn định ra các tiêu chuẩn di cư cụ thể để hạn chế sự di cư của con người. * Di cư bắt buộc, di cư miễn cưỡng: Là hình thức di cư mà trong đó quyết định di cư là do người khác chứ không phải do chính người di cư quyết định.Có hai hình thức di cư bắt buộc: + Di cư bắt buộc trong đó người di cư có quyền lựa chọn + Di cư bắt buộc trong đó người di cư không có quyền lựa chọn Tuy nhiên, tùy theo mục đích di cư người ta cũng có thể phân ra nhiều hình thức di cư khác: - Theo độ dài nơi cư trú có: Di cư lâu dài và di cư tạm thời - Theo khoảng cách lãnh thổ di cư quốc tế và di cư nội địa 11 - Theo tính chất pháp lý có di cư hợp pháp và di cư bất hợp pháp, di dân tự phát hay di dân có tổ chức.
Tùy thuộc vào mức độ can thiệp của chính quyền. - Theo hướng di chuyển: + Di cư thành thị - thành thị: Chỉ các dòng di dân từ đô thị này đến đô thị khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong một giai đoạn nhất định. Đây là hình thức di dân phổ biến trong các nước phát triển hiện nay. Ỏ Việt Nam có một số luồng chính: luồng di dân Bắc – Nam, luồng di dân từ các thành phố nhỏ, thị xã thị trấn về các thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Cần Thơ.
+ Di dân thành thị - nông thôn: Là dòng di dân của dân cư từ khu vực đô thị (nơi đi) về nông thôn (nơi đến), kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong một giai đoạn nhất định. Ở Việt Nam, sau thời kỳ miền Nam giải phóng, một phần dân cư tập trung ở khu vực đô thị của các tỉnh phía Nam trở về quê cũ làm ăn khiến cho số lượng dân đô thị giảm đi trong vài năm. Trong giai đoạn hiện nay, di dân đô thị - nông thôn thường gặp ở những cá nhân hay những nhóm người hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về, những cán bộ đã làm việc ở các đô thị trở về nghỉ hưu tại nông thôn, học sinh – sinh viên trở về quê sau khi học xong.