Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015" do tác giả Nguyễn Phương Anh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Đào Phương Thanh tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024), thuộc chuyên ngành Pháp luật Hình sự.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng sau lần pháp điển hóa thứ ba với Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 - viết tắt là BLHS năm 2015), chính sách hình sự của Việt Nam đã có nhiều chuyển biến quan trọng nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp và tư duy lập hiến của Hiến pháp năm 2013. Trọng tâm của chính sách này hướng đến tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Trong đó, chế định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) là một trong những căn cứ pháp lý then chốt để Tòa án cá thể hóa hình phạt và lượng hình đúng mức. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định này tại các cơ quan tiến hành tố tụng còn bộc lộ nhiều bất cập, tồn tại cách hiểu thiếu thống nhất, dẫn đến nguy cơ quyết định hình phạt thiếu khách quan, chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của tội phạm. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành chi tiết và kỹ thuật lập pháp chưa thực sự bao quát.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về tình tiết tăng nặng TNHS, từ đó kiến nghị giải pháp hoàn thiện BLHS năm 2015 và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật. Tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu hệ thống lý luận, quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS có ý nghĩa làm tăng nặng hình phạt trong giới hạn khung hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành.
  2. Xác định các hạn chế, vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế.
  3. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng áp dụng các quy định của BLHS về tình tiết tăng nặng TNHS.

Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và hệ thống quy phạm pháp luật hình sự về các tình tiết tăng nặng TNHS theo quy định của BLHS. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào góc độ luật hình sự thông qua BLHS, các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản dưới luật liên quan đến lượng hình và quyết định hình phạt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm, đường lối, chính sách cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Hệ thống cơ sở lý thuyết và văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng xuyên suốt công trình bao gồm:

  • Các văn bản pháp luật thực định và lịch sử: Sắc lệnh số 6 (ngày 15/01/1946), Sắc lệnh số 21 (ngày 14/02/1946), Sắc lệnh số 68-SL (ngày 18/8/1949); BLHS năm 1985 (Điều 39); BLHS năm 1999 (Điều 48); BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Điều 52, Điều 53 và các điều luật thuộc Phần các tội phạm); Luật Trẻ em / Luật Chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004; Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020.
  • Các văn bản hướng dẫn áp dụng: Nghị quyết số 04/HĐTPTANDTC/NQ năm 1986; Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP; Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP; Sổ tay Thẩm phán năm 2023.
  • Pháp luật hình sự quốc tế: Điều 63 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga năm 2011; Điều 2 Chương 29 Bộ luật Hình sự Thụy Điển năm 2010.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai kết hợp bao gồm: phương pháp phân tích - tổng hợp tri thức khoa học pháp lý, phương pháp thống kê xã hội học pháp lý, và phương pháp so sánh luật học (đối chiếu lịch sử lập pháp Việt Nam và so sánh quy định tương ứng của Liên bang Nga, Thụy Điển). Nguồn dữ liệu nghiên cứu kế thừa các giáo trình Luật Hình sự (Trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội), các công trình bình luận khoa học (Đinh Văn Quế, Phan Thị Thu Lê), các luận văn thạc sĩ chuyên ngành (Trần Văn Sơn, Phan Hằng Thủy, Nguyễn Phương Thảo, Ngô Chí Cường) và các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Nghề luật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng, tiến trình lập pháp lịch sử tại Việt Nam và kinh nghiệm pháp luật quốc tế về tình tiết tăng nặng TNHS.

  • Khái niệm và đặc điểm: Tác giả phân tích các quan điểm lý luận khác nhau và đưa ra định nghĩa: Tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết được quy định trong BLHS phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khả năng cải tạo giáo dục của người phạm tội, có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt, làm tăng hình phạt trong giới hạn một khung hình phạt nhất định. Tác giả chỉ ra 4 đặc điểm cốt lõi:
    1. Phải do nhà làm luật ghi nhận trong BLHS (danh sách luật định, Tòa án không được tự ý sáng tạo như tình tiết giảm nhẹ).
    2. Chỉ áp dụng một lần trong vụ án cụ thể; trong đồng phạm, tình tiết thuộc về ai thì chỉ áp dụng đối với cá nhân người đó.
    3. Chỉ được áp dụng sau khi đã định tội danh và xác định khung hình phạt; không được áp dụng nếu tình tiết đó đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung tăng nặng (Khoản 2 Điều 52 BLHS năm 2015).
    4. Mang tính chất ổn định về số lượng và nội dung quy định.
  • Ý nghĩa: Tác giả chia thành 3 nhóm ý nghĩa: ý nghĩa pháp lý (cá thể hóa hình phạt, bảo đảm nguyên tắc công bằng và pháp chế); ý nghĩa chính trị - xã hội (thể hiện chính sách xử lý nghiêm trị kết hợp khoan hồng của Đảng và Nhà nước, củng cố niềm tin tư pháp); ý nghĩa phòng ngừa tội phạm (răn đe, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật).
  • Phân loại:
    • Căn cứ vào ý nghĩa pháp lý: Tình tiết tăng nặng định tội, tình tiết tăng nặng định khung hình phạt, và tình tiết tăng nặng TNHS chung (áp dụng theo thứ tự loại trừ).
    • Căn cứ vào tính chất: Tình tiết thuộc mặt khách quan (hành vi, hậu quả, phương thức, hoàn cảnh phạm tội); thuộc mặt chủ quan (động cơ đê hèn, cố tình thực hiện tội phạm đến cùng); thuộc chủ thể (nhân thân, chức vụ quyền hạn, tính chất côn đồ, tái phạm); thuộc khách thể và đối tượng tác động (người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già, người khuyết tật).
  • Lịch sử lập pháp:
    • Giai đoạn 1945–1985: Áp dụng rải rác qua các Sắc lệnh (SL số 6, SL số 21, SL số 68-SL) và đường lối xét xử của Tòa án nhân dân, chưa có điều luật chung quy định hệ thống tình tiết tăng nặng.
    • BLHS năm 1985: Lần đầu tiên quy định tập trung tại Điều 39 với 9 nhóm tình tiết tăng nặng.
    • BLHS năm 1999: Sửa đổi tên gọi thành "Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự" tại Điều 48 với 14 nhóm tình tiết; bổ sung các tình tiết mới như: phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, có tính chất côn đồ, xâm phạm tài sản nhà nước, gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
  • Pháp luật quốc tế: Khóa luận nghiên cứu Điều 63 BLHS Liên bang Nga (14 tình tiết tăng nặng hình phạt) và Điều 2 Chương 29 BLHS Thụy Điển (7 tình tiết tăng nặng). Tác giả nhận xét: BLHS Nga dùng danh sách đóng tương tự Việt Nam; trong khi BLHS Thụy Điển chỉ quy định các tình tiết gắn liền với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, hoàn toàn không dựa vào đặc điểm nhân thân người phạm tội ("chịu TNHS do hành vi thực hiện chứ không phải do nhân thân tốt hay xấu").

Chương 2: Quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Chương 2 đi sâu phân tích cơ sở pháp lý, cấu thành và tiêu chí áp dụng từng tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015, kết hợp dẫn chứng các vụ án xét xử cụ thể:

  • Phạm tội vì động cơ đê hèn: Phân tích yếu tố tâm lý thể hiện sự ích kỷ cao độ, bội bạc, phản trắc (như giết vợ/chồng để tự do kết hôn; giết người tình đang mang thai để trốn trách nhiệm; giết ân nhân; giết chủ nợ để trốn nợ). Tác giả lưu ý phải phân biệt với các tình tiết định khung tương ứng tại Điều 123 và Điều 134 BLHS.
  • Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng: Phân tích biểu hiện quyết tâm phạm tội cao, bất chấp sự can ngăn hoặc trở ngại khách quan (dẫn chứng tình huống Hoàng Công T cưỡng ép giao cấu với con riêng của vợ dù bị nạn nhân chạy trốn và kêu cứu; phân tích trường hợp A đầu độc B).
  • Phạm tội 02 lần trở lên: Xác định điều kiện phải có từ 2 lần thực hiện hành vi cấu thành cùng một tội danh độc lập, chưa lần nào bị truy cứu TNHS và chưa hết thời hiệu. Tác giả dẫn chứng vụ án Nguyễn Hữu H (làm công nhân, cắt dán giấy làm giả biển kiểm soát mô tô 30Z7-7847 để trộm cắp liên tiếp 3 xe máy của các anh Nguyễn Văn Q, Nguyễn Thanh H, Trần Văn T với tổng giá trị định giá 30.000.000 đồng; Tòa án áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS).
  • Tái phạm và tái phạm nguy hiểm (Điều 53 BLHS):
    • Tái phạm: Đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc tội rất nghiêm trọng/đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Dẫn chứng vụ án Lục Văn C (bị bắt quả tang tàng trữ 0,1207 gam Heroin; trước đó có bản án số 47/2022/HS-ST về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích).
    • Tái phạm nguy hiểm: Dẫn chứng vụ án Lường Văn K (mua 20 viên hồng phiến về sử dụng và bán lẻ; trước đó năm 2010 đã bị TAND huyện Mường C xử phạt 8 năm 6 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý theo Điều 251 BLHS).
  • Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên:
    • Người dưới 16 tuổi: Là tình tiết khách quan, không phụ thuộc vào việc người phạm tội có nhận thức được độ tuổi hay không; phân tích hai luồng quan điểm tính ngày tháng sinh khi hồ sơ không xác định được ngày sinh cụ thể.
    • Phụ nữ có thai: Áp dụng đối với mọi giai đoạn thai nghén dựa trên kết luận giám định y khoa/bác sĩ, không đòi hỏi người phạm tội "buộc phải biết" như cấu thành định khung tại điểm c khoản 1 Điều 123 BLHS.
    • Người đủ 70 tuổi trở lên: Thay thế cụm từ "người già" của BLHS năm 1999 nhằm lượng hóa chính xác.
  • Phạm tội đối với người trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng, người bị hạn chế nhận thức, người lệ thuộc:
    • Khuyết tật nặng và đặc biệt nặng: Căn cứ tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 80% (khuyết tật nặng) và từ 81% trở lên (đặc biệt nặng) theo kết luận giám định y khoa.
    • Người lệ thuộc: Phải chứng minh mối quan hệ lệ thuộc thực tế về vật chất, tinh thần, công tác (phân tích vụ án thầy giáo Nguyễn Xuân D và học sinh Đào Văn V để làm rõ ranh giới áp dụng).
  • Lợi dụng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc khó khăn đặc biệt của xã hội: Phân tích bối cảnh áp dụng nhằm trừng trị các hành vi lợi dụng tình trạng hiểm nghèo của cộng đồng để trục lợi, xâm phạm an ninh trật tự.
  • Thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác; dùng phương tiện nguy hại cho nhiều người; xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội: Phân tích các dấu hiệu phản ánh tính chất nguy hiểm cao của phương thức phạm tội.

Bảng tổng hợp đối chiếu một số cặp tình tiết tăng nặng trọng tâm trong khóa luận:

Tình tiết Tiêu chí pháp lý xác định Giá trị định lượng / Điều kiện áp dụng Lưu ý loại trừ
Phạm tội 02 lần trở lên Đã thực hiện tội phạm từ 02 lần trở lên cùng loại tội danh. Mỗi lần đều đủ cấu thành độc lập; chưa bị xử lý; chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS. Không áp dụng nếu hành vi trước đã bị đình chỉ điều tra, miễn tố hoặc tách vụ án khác.
Tái phạm Đã bị kết án, chưa được xóa án tích. Tiếp tục phạm tội do cố ý, hoặc phạm tội rất nghiêm trọng / đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Loại trừ người bị kết án khi chưa đủ 18 tuổi (theo Điều 107 BLHS) hoặc đã đương nhiên xóa án tích.
Tái phạm nguy hiểm Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng / đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm. Tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng / đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, hoặc tái phạm lại phạm tội do cố ý. Không phân biệt loại tội ở lần phạm tội sau nếu đã rơi vào trường hợp tái phạm chưa xóa án tích.
Người khuyết tật Người bị suy giảm khả năng tự phục vụ sinh hoạt. Dựa trên kết luận giám định: 61% - 80% (nặng); từ 81% trở lên (đặc biệt nặng). BLHS năm 2015 không có thuật ngữ "khuyết tật rất nặng", chỉ có "nặng" và "đặc biệt nặng".

Chương 3: Một số hạn chế, vướng mắc và đưa ra những giải pháp hoàn thiện nâng cao hiệu quả áp dụng của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định

Chương 3 tập trung nhận diện những khoảng trống lập pháp và vướng mắc thực tiễn, từ đó kiến nghị 3 nhóm giải pháp:

  1. Chỉ ra hạn chế, vướng mắc: Phân tích tình trạng thiếu văn bản quy phạm dưới luật giải thích thống nhất các khái niệm mang tính định tính (như "tình trạng không thể tự vệ được", "động cơ đê hèn", "thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt"); vướng mắc trong việc xác định tuổi của người bị hại khi không có đủ giấy tờ hộ tịch; và sự thiếu nhất quán giữa các Tòa án địa phương khi đánh giá các tình tiết thuộc mặt chủ quan.
  2. Giải pháp hoàn thiện BLHS năm 2015: Đề xuất Hội đồng Thẩm phán TANDTC sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất Điều 52 và Điều 53 BLHS; rà soát, sửa đổi các quy định còn chồng chéo giữa tình tiết tăng nặng định khung và tình tiết tăng nặng chung nhằm bảo đảm tính minh định của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt.
  3. Giải pháp nâng cao năng lực chủ thể áp dụng pháp luật: Kiến nghị tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên và Điều tra viên; chuẩn hóa kỹ năng đánh giá chứng cứ khách quan, tránh việc quy kết võ đoán ý thức chủ quan của bị cáo khi áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả pháp lý và thực tiễn: Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện hệ thống 14 nhóm tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015. Công trình phân tích cụ thể các tiêu chuẩn định lượng như tỷ lệ thương tật (61-80% và trên 81% đối với người khuyết tật), mốc độ tuổi (dưới 16 tuổi, đủ 70 tuổi trở lên), và giải quyết các xung đột định danh thông qua các hồ sơ vụ án thực tiễn (vụ án Nguyễn Hữu H trộm tài sản trị giá 30.000.000 đồng; vụ án Lục Văn C tàng trữ 0,1207 gam Heroin; vụ án Lường Văn K mua bán 20 viên hồng phiến).
  • Giải pháp và kiến nghị: Đề xuất giải pháp mang tính lập pháp và giải thích pháp luật: Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn chi tiết quy chế áp dụng các tình tiết có tính định tính; quy định rõ nguyên tắc xác định ngày tháng sinh đối với người bị hại theo hướng bảo đảm quyền con người; và chuẩn hóa quy trình phân định thứ tự ưu tiên áp dụng giữa tình tiết định tội, định khung và tăng nặng chung.
  • Đóng góp khoa học: Tác giả đã khắc phục được sự rời rạc của các nghiên cứu trước đó (vốn chỉ phân tích từng tình tiết đơn lẻ hoặc dừng lại ở phân tích giáo trình); cung cấp góc nhìn đối chiếu luật học so sánh giữa mô hình danh sách đóng của Việt Nam/Nga với mô hình coi trọng hành vi khách quan của Thụy Điển.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tập trung nghiên cứu dưới góc độ khoa học luật hình sự thực định Việt Nam trên cơ sở văn bản BLHS năm 2015 và so sánh có chọn lọc với hai hệ thống pháp luật nước ngoài (Liên bang Nga và Thụy Điển).

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ phạm vi đề tài bao gồm: mở rộng nghiên cứu thực tiễn xét xử thông qua việc thu thập, phân tích số liệu thống kê bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm trên quy mô toàn quốc; đánh giá sâu hơn tác động của các nghị quyết hướng dẫn mới của TANDTC; và khảo cứu kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia theo hệ thống Thông luật (Common Law) đối với việc lượng hình và tăng nặng hình phạt.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học, Pháp luật Hình sự và Tố tụng Hình sự; đồng thời phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật.
  • Nội dung giá trị:
    • Hệ thống tiêu chí phân loại chi tiết các tình tiết tăng nặng theo bản chất pháp lý và 4 yếu tố cấu thành tội phạm.
    • Phân tích kỹ thuật lập pháp và nguyên tắc loại trừ tại Khoản 2 Điều 52 BLHS năm 2015 nhằm tránh áp dụng trùng lặp tình tiết định tội/định khung với tình tiết tăng nặng chung.
    • Bảng đối chiếu lịch sử lập pháp Việt Nam qua các thời kỳ (1945, 1985, 1999, 2015) và các tình huống án lệ thực tiễn minh họa rõ nét phương pháp áp dụng pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Tình tiết tăng nặng TNHS chung khác với tình tiết tăng nặng định tội và định khung như thế nào? Theo tác giả, tình tiết tăng nặng định tội làm thay đổi tính chất nguy hiểm của hành vi để cấu thành một tội danh độc lập nặng hơn. Tình tiết tăng nặng định khung làm tăng mức độ nguy hiểm của hành vi trong cùng một tội danh để chuyển sang khung hình phạt có chế tài cao hơn. Trong khi đó, tình tiết tăng nặng chung (Điều 52 BLHS) chỉ có ý nghĩa lượng hình, làm tăng mức hình phạt cụ thể trong phạm vi một khung hình phạt nhất định và không được áp dụng nếu đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung.

2. Điểm khác biệt căn bản giữa quy định tình tiết tăng nặng của BLHS Thụy Điển và BLHS Việt Nam là gì? Điều 2 Chương 29 BLHS Thụy Điển quy định 7 tình tiết tăng nặng đều thuần túy phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, không quy định tình tiết gắn với nhân thân người phạm tội (như tái phạm, tính chất côn đồ, phạm tội nhiều lần). Pháp luật Thụy Điển vận hành theo nguyên tắc cá nhân chịu TNHS do hành vi phạm tội gây ra chứ không chịu trách nhiệm vì lý do nhân thân tốt hay xấu.

3. Thực tiễn xét xử giải quyết vấn đề xác định độ tuổi của người bị hại dưới 16 tuổi khi không có ngày tháng sinh cụ thể theo những quan điểm nào? Khóa luận chỉ ra hai luồng quan điểm trái ngược: Quan điểm thứ nhất cho rằng nếu không biết ngày sinh thì lấy ngày cuối cùng của tháng, không biết tháng sinh thì lấy tháng cuối cùng của năm (cách tính bất lợi cho người phạm tội). Quan điểm thứ hai cho rằng nếu không biết ngày sinh thì lấy ngày đầu tiên của tháng, không biết tháng sinh thì lấy tháng đầu tiên của năm (cách tính có lợi cho người phạm tội). Tác giả kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể.

4. Dấu hiệu xác định tình tiết "tái phạm nguy hiểm" theo Điều 53 BLHS năm 2015 gồm những trường hợp nào? Gồm 2 trường hợp: (1) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; (2) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý (không phân biệt loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng).

5. Nguyên tắc áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS trong vụ án có đồng phạm được thực hiện ra sao? Theo phân tích của tác giả, tình tiết tăng nặng TNHS mang tính cá thể hóa cao. Khi giải quyết vụ án có đồng phạm, Tòa án chỉ được phép áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS đối với riêng cá nhân người đồng phạm có tình tiết đó, tuyệt đối không được suy diễn áp dụng lan sang các đồng phạm khác nếu họ không trực tiếp có tình tiết tăng nặng này.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Phương Anh đã phân tích toàn diện chế định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015 từ góc độ lý luận, lịch sử lập pháp và thực tiễn áp dụng. Thông qua việc phân tích cấu thành các tình tiết tại Điều 52, đối chiếu với luật học so sánh và các vụ án thực tiễn điển hình, công trình làm sáng tỏ bản chất pháp lý và nguyên tắc cá thể hóa hình phạt. Các kiến nghị hoàn thiện lập pháp và nâng cao năng lực chủ thể áp dụng pháp luật được đề xuất trong khóa luận có giá trị khoa học và tính ứng dụng thực tiễn cao cho công tác tư pháp hình sự.