phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ đƣợc trình bày thành bốn chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng tới cân bằng tài chính dài hạn của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng về cân bằng tài chính dài hạn của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Chƣơng 3: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến cân bằng tài chính dài hạn của doanh nghiệp. Chƣơng 4: Kết quả và hàm ý rút ra từ mô hình nghiên cứu.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Các nghiên cứu về cân bằng tài chính trƣớc đây hầu nhƣ chỉ có ở nƣớc ngoài, riêng Việt Nam, các nghiên cứu về cân bằng tài chính dài hạn còn rất hạn chế. Từ khi lý thuyết của Modigliani và Miller (1958, 1963) [21] ra đời đã có những đóng góp vào việc giải thích các quyết định của nhà quản lý. Các quyết định của nhà quản lý đến việc có sự dụng nợ hay không trong cấu trúc tài chính của mình dẫn đến việc đƣa ra quyết định nên sử dụng nợ vay nhƣ thế nào, tỷ lệ nợ dài hạn và nợ ngắn hạn bao nhiêu, tài trợ cho từng loại tài sản ra sao trở thành những trăn trở của các nhà quản lý, bởi mỗi quyết định đều ảnh hƣởng đến khả năng thanh toán của DN, từ đó ảnh hƣởng đến cân bằng tài chính trong dài hạn. Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, các tài liệu sử dụng nghiên cứu vốn lƣu động ròng đại diện cho cân bằng tài chính dài hạn và tổng quan tài liệu đƣợc tác giả tổng hợp nhƣ sau: Luan van 6 Có nhiều bài nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra sự ảnh hƣởng của vốn lƣu động ròng đối với giá trị DN.
Những nhân tố chính ảnh hƣởng đến vốn lƣu động ròng bao gồm tỷ suất lợi nhuận, lãi suất cho vay, cấu trúc tài sản, cơ hội tăng trƣởng, quy mô doanh nghiệp… Trong nghiên cứu của Sagan, J. (1955) [24], tác giả đã đƣa ra quan điểm là vốn lƣu động ròng có sự ảnh hƣởng sâu sắc đến sức khỏe của DN. Hơn nữa, đó vẫn là một trong những vấn đề quan trọng ảnh hƣởng đến quyết định đầu tƣ ngắn hạn của nhà quản lý. Chỉ tiêu vốn lƣu động ròng đƣợc quyết định bởi yêu cầu tiền mặt để đầu tƣ cho hàng tồn kho, quản lý nợ phải thu, khoản phải trả.
Vì thế, một số nhân tố ban đầu đƣợc Sagan xác định có ảnh hƣởng đến vốn lƣu động ròng chính là nợ phải thu, khoản phải trả, mức độ hàng tồn kho, yêu cầu tiền mặt. Trong các tài liệu tham khảo, có một cuộc tranh luận về sự đánh đổi rủi ro lợi nhuận giữa các chính sách vốn lƣu động ròng khác nhau Pinches G E (1991) [22]; Brigham E F and Ehrhardt M C (2004) [8]; Gitman L A (2005) [12]. Theo các nghiên cứu này, xuất hiện 2 hình thức tài trợ vốn cho tài sản, từ đó dẫn đến 2 trƣờng hợp là vốn lƣu động ròng dƣơng (gọi là chính sách vốn lƣu động ròng thận trọng) và vốn lƣu động ròng âm (gọi là chính sách vốn lƣu động ròng linh hoạt). Chính sách vốn lƣu động ròng linh hoạt có liên quan tới lợi nhuận tại các DN sẽ cao hơn và rủi ro nhiều hơn, trong khi chính sách vốn lƣu động ròng thận trọng có liên quan với rủi ro thấp hơn và ngƣợc lại, lợi nhuận cũng ít hơn theo Gardner M J, Mills D L and Pope R A (1986) [13].
Các chỉ số nhƣ: tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản; tỷ lệ hàng tồn kho trên tổng tài sản đƣợc xem nhƣ là các nhân tố ảnh hƣởng đến vốn lƣu động ròng, trong khi các chỉ số kinh tế trung bình đƣợc chỉ ra trong “Các nhân tố quyết định đến vốn lƣu động ròng” đƣợc thực hiện tại Pakitan, 31 chỉ số Luan van 7 đƣợc sử dụng để đo lƣờng các hoạt động kinh tế. Trái với dự đoán, nghiên cứu thấy rằng có rất ít mối quan hệ giữa những thay đổi trong điều kiện kinh tế và thay đổi vốn lƣu động ròng. Trong bối cảnh nghiên cứu, Hill, M. (2010) [14] đƣa ra nhận định rằng vốn lƣu động ròng có mối quan hệ ngƣợc chiều với tỉ lệ tăng trƣởng doanh thu, lãi suất, khó khăn tài chính và nó cũng có ảnh hƣởng tích cực đến dòng tiền hoạt động và thị trƣờng vốn.
Corporate Working Capital Management: Determinants and Consequences. Working Paper trong nghiên cứu của mình đã tập trung đến các nhân tố có thể ảnh hƣởng đến vốn lƣu động ròng nhƣ là quy mô DN, tỉ lệ tăng trƣờng doanh thu, tỷ lệ phần trăm mức độ kiểm soát từ bên ngoài của nhà quản lý và hội đồng quản trị. Họ tìm thấy mối quan hệ giữa vốn lƣu động ròng với quy mô DN, tuy nhiên lại không liên quan đến sự tập trung của các ngành công nghiệp của các DN đó. Họ cũng nhận ra rằng một tỷ lệ kiểm soát bên ngoài đến DN cao hơn thì vốn lƣu động ròng có xu hƣớng an toàn hơn.
Mức lƣơng cho các nhà quản lý cao hơn thì các DN có vốn lƣu động ròng tốt an toàn hơn. Tuy nhiên, với một mức cổ phẩn của nhà quản lý tại các DN cao hơn thì hành vi thể hiện thƣờng trái ngƣợc so với trƣớc đó. Kết quả này cũng hợp lý cùng với kết quả của Hawawini et. (1986) [15], cho rằng, có một sự ảnh hƣởng từ mức độ cổ phẩn của nhà quản lý đến vốn lƣu động ròng tại các DN và sự ảnh hƣởng này ổn định theo thời gian, loại hình DN cũng là những nhân tố quan trọng, ảnh hƣởng đến vốn lƣu động ròng của các DN.
(1977) [23] đã nghiên cứu về chính sách quản lý vốn lƣu động ròng và thực tiễn của các công ty tƣ nhân sản xuất ở Sri Lanka, họ thấy rằng quy mô DN là một trong những nhân tố có ảnh Luan van 8 hƣởng lớn đến vốn lƣu động ròng. Nhiều nghiên cứu trƣớc đây đảm bảo rằng kích thƣớc là một trong những yếu tố quyết định đến vốn lƣu động ròng. Trong phân tích các yếu tố quyết định quản lý vốn lƣu động ròng, Chiou J R and Cheng L (2006) [9] phát hiện ra rằng có một mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa cơ cấu vốn của công ty và hai cách đo lƣờng tính thanh khoản: cân bằng thanh khoản thuần và tỷ lệ vốn lƣu động ròng. Tuy nhiên những biến số nhƣ chỉ số kinh doanh, hiệu quả ngành công nghiệp, cơ hội tăng trƣởng, hoạt động của DN và quy mô của DN tỏ ra không có ảnh hƣởng đến vốn lƣu động ròng.
Trong nghiên cứu của Mian Sazid Nazirvà Talat Afza (2009) [20], với mô hình lấy số liệu của 157 công ty phi tài chính của Pakistan, họ chỉ ra nhân tố quyết định đến vốn lƣu động ròng ở Pakistan là hệ số khả năng thanh toán nhanh. Hệ số này rất quan trọng đối với các nhà đầu tƣ bên ngoài bởi nó liên quan đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp đó. Theo nghiên cứu này, tỉ suất lợi nhuận có mối tƣơng quan với vốn lƣu động ròng, tƣơng đồng quan điểm với Afza và Nazir (2007) [5]. Những nhân tố khác đƣợc kể ra đƣợc xem xét có sự ảnh hƣởng đến vốn lƣu động ròng trong mô hình nghiên cứu này bao gồm: dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính.
Cùng kết quả của Kaveh (2013) [13] với mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến vốn lƣu động ròng, cũng chỉ ra các nhân tố đó bao gồm đòn bẩy tài chính và khả năng thanh toán nhanh. Tuy nhiên, nghiên cứu của Kaveh có chỉ ra một nhân tố mới chính là thời gian hoạt động của doanh nghiệp. Cuối cùng, Afza T and Nazir M S (2007) [5] đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách vốn lƣu động ròng linh hoạt và thận trọng cho 17 nhóm công nghiệp và mở rộng ra là của 263 công ty niêm yết trên KSE cho giai đoạn 1998-2003. Sử dụng ANOVA và thử nghiệm LSD, nghiên cứu cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa chính sách vốn lƣu động ròng và các chính sách tài Luan van 9 chính giữa các ngành khác nhau.
Hơn nữa, thứ tự xếp hạng tƣơng quan xác nhận rằng những khác biệt đáng kể là khá ổn định qua thời gian nghiên cứu kéo dài sáu năm. Cuối cùng, phân tích hồi quy Square Least (OLS) tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa lợi nhuận của doanh nghiệp và vốn lƣu động ròng. Từ cái nhìn tổng quan của các tác giả trên thế giới về các nhân tố ảnh hƣởng đến vốn lƣu động ròng, tóm gọn nhƣ sau: - Tổng kết lại, có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến vốn lƣu động ròng, và các yếu tố đó khác nhau qua các nghiên cứu khác nhau của các nhà nghiên cứu trên thế giới.Các nhân tố ảnh hƣởng đến vốn lƣu động ròng đƣợc các tác giả kể ra là: Hiệu quả hoạt động kinh doanh, Cấu trúc tài chính, Cơ hội tăng trƣởng, cơ cấu tài sản; Lãi suất cho vay, Chu kỳ tiền mặt; Mức tăng trƣởng doanh thu; Tỉ số thanh toán nhanh… Tác giả nhận thấy rằng, những nhân tố mà các nghiên cứu đi trƣớc đƣa ra là khá phù hợp và đầy đủ đối với mỗi không gian và thời gian nghiên cứu. Những nhân tố này có thể làm cơ sở để tác giả thực hiện nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến cân bằng tài chính dài hạn tại Việt Nam.
- Mỗi một DN đều có một đặc điểm riêng, và mỗi quốc gia khác nhau có các chính sách kinh tế và tốc độ tăng trƣởng khác nhau. Tất cả những yếu tố này đều ảnh hƣởng đến vốn lƣu động ròng. Chính vì vậy, đối với nền kinh tế của Việt Nam nói chung và ngành sản xuất hàng tiêu dùng nói riêng, tác giả có thể vận dụng và đƣa ra thêm các nhân tố ảnh hƣởng đối với cân bằng tài chính dài hạn sao cho phù hợp nhất đối với đặc điểm kinh tế cũng nhƣ đặc điểm điểm ngành của bài nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn khoa học của đề tài Tại Việt Nam, đến nay vẫn còn rất hạn chế các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hƣởng đến cân bằng tài chính dài hạn của các DN Việt Luan van 10 Nam của các học viên cao học, các giảng viên ở các trƣờng đại học.