MỞ ĐẦU Sâm Ngọc Linh là loài dƣợc liệu quý thuộc chi Nhân sâm (Panax L.) có hàm lƣợng saponin khung dammaran cao nhất (khoảng 12-15%) và hàm lƣợng triterpene nhiều nhất so với các loài khác thuộc chi Panax trên thế giới. Sâm Ngọc Linh có đến 52 loại saponin, 18 amino acid, 20 chất khoáng vi lƣợng, 0,1% tinh dầu. Sâm Ngọc Linh có nhiều công dụng đặc biệt nhƣ chống stress, chống trầm cảm, giảm lo âu, chống oxy hóa, kích thích hệ miễn dịch, tăng khả năng hồi phục máu, tăng khả năng vận động, chống suy nhƣợc cơ thể [1-2]. Từ năm 1985 đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu công bố về hóa học, hoạt tính sinh học và cấu trúc hóa học của các hợp chất tiêu biểu phân lập từ sâm Ngọc Linh [3-7].
Những kết quả nghiên cứu này kh ng định giá trị rất quý của sâm Ngọc Linh so với các loại nhân sâm khác trên thị trƣờng. Từ những năm 1990, sâm Ngọc Linh trong tự nhiên hầu nhƣ đã bị khai thác cạn kiệt và có nguy cơ tuyệt chủng, trở thành một loài thực vật có tên trong sách đỏ Việt Nam [5]. Theo tiêu chuẩn phân hạng trong Danh lục Đỏ của IUCN (1994 và 2001), sâm Ngọc Linh ở trong tình trạng “Cực kỳ nguy cấp”. Trƣớc tình hình đó, Việt Nam đã có những chủ trƣơng, chính sách đúng đắn nhằm khôi phục, bảo tồn và phát triển cây sâm Ngọc Linh.
Nhiều công trình nghiên cứu nhằm điều tra, phân loại, xác định vùng phân bố, nghiên cứu thành phần hóa học và dƣợc tính, đánh giá đa dạng di truyền, tìm kiếm mã vạch DNA, xây dựng mối quan hệ phát sinh chủng loại, bảo tồn, nhân giống, sản xuất giá thể, kỹ thuật canh tác, gieo trồng, bảo vệ thực vật, chế biến, bảo quản sâm Ngọc Linh đã và đang đƣợc thực hiện. So với các loài khác trong chi Nhân sâm, các nghiên cứu ở mức độ phân tử và in silico liên quan đến hệ gen phiên mã cũng nhƣ các gen liên quan đến sinh tổng hợp ginsenoside vẫn còn rất ít. Trong nghiên cứu này dữ liệu hệ gen phiên mã của sâm Ngọc Linh đƣợc phân tích và trên cơ sở các thông tin thu đƣợc, phƣơng pháp real time PCR đƣợc sử dụng để đánh giá mức độ biểu hiện của các gen quan tâm có liên quan đến quá trình sinh tổng hợp ginsenoside ở lá và thân rễ của cây sâm Ngọc Linh. Kết quả góp phần cung cấp cơ sở khoa học đánh giá vai trò của yếu tố di truyền đến sự sinh tổng hợp ginsenoside ở cây sâm Ngọc Linh.
Nghiên cứu “Phân tích biểu hiện một số gen liên quan đến con đƣờng sinh Vietnam Academy of Science and Technology 2 tổng hợp ginsenoside ở sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) ’’ đã đƣợc thực hiện với mục tiêu và những nội dung cụ thể nhƣ sau: 1. MỤC TIÊU: Đề tài đặt mục tiêu xác định đƣợc các gen chính tham gia vào con đƣờng sinh tổng hợp ginsenoside ở sâm Ngọc Linh và đánh giá đƣợc mức độ biểu hiện của một số gen này ở mô lá, thân rễ của sâm Ngọc Linh 1 và 4 năm tuổi. NỘI DUNG: a) Xác định các gen liên quan đến con đƣờng sinh tổng hợp ginsenoside ở sâm Ngọc Linh thông qua phân tích dữ liệu hệ gen phiên mã thu đƣợc từ giải trình tự gen thế hệ mới; b) Xây dựng con đƣờng sinh tổng hợp ginsenoside giả định ở sâm Ngọc Linh; c) Nhân bản và xác định trình tự một số gen liên quan đến con đƣờng sinh tổng hợp ginsenoside ở sâm Ngọc Linh sử dụng phƣơng pháp Sanger; d) Phân tích biểu hiện các gen liên quan đến con đƣờng sinh tổng hợp ginsenoside ở mẫu lá sâm Ngọc Linh 1 và 4 năm tuổi; e) Phân tích biểu hiện các gen liên quan đến con đƣờng sinh tổng hợp ginsenoside ở mẫu thân rễ sâm Ngọc Linh 1 và 4 năm tuổi; f) So sánh mức biểu hiện của các gen liên quan đến tổng hợp ginsenoside giữa mô lá và thân rễ sâm Ngọc Linh ở hai độ tuổi. Vietnam Academy of Science and Technology 3 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CHI NHÂN SÂM VÀ SÂM NGỌC LINH 1.1 Chi Nhân sâm Chi Nhâm sâm (Panax L.) là loài cây lâu năm có củ, phát triển rất chậm thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae), bộ Apiales (Hoa tán), chủ yếu mọc ở Bắc bán cầu trong khu vực Đông Á (phần lớn ở Triều Tiên - Cao Ly), Trung Quốc, Đông Siberi và Bắc Mỹ, đặc trƣng là xứ lạnh. Trong đó ở Bắc Mỹ chỉ có 1 loài, còn lại tập trung ở Đông Á (kể cả Himalaya). Tất cả các loài đều có giá trị làm thuốc, một số có giá trị kinh tế rất cao, mang lại nguồn thu hàng trăm triệu USD nhƣ sâm Triều Tiên (Panax ginseng), sâm Mỹ (Panax quinquefolius), sâm Nhật (Panax japonicus) và Tam thất (Panax notoginseng) [9]. Gần đây, 12 loài với 2 thứ thuộc chi này đã đƣợc mô tả [10-11].
Các loài chính bao gồm: P., P vietnamensis Ha et Grushv. Một số loài đƣợc gọi tên theo tên quốc gia, chỉ nguồn gốc xuất xứ của sâm nhƣ P. vietnamensis lần lƣợt đƣợc gọi là sâm Nhật, sâm Trung Quốc, sâm Mỹ và sâm Việt Nam [11]. Nhiều loài Panax chứa các hợp chất tự nhiên triterpene saponin hay còn gọi là các ginsenoside có cấu tạo phân tử khá phức tạp, độc đáo, có hoạt tính tốt và có tác dụng tăng cƣờng thể lực, chống oxy hóa, ung thƣ, đái tháo đƣờng, bảo vệ hệ thần kinh [1-2].
Nhiều công trình trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam đã lựa chọn các loài thuộc chi Panax làm đối tƣợng nghiên cứu về thành phần hóa học và dƣợc tính, đánh giá đa dạng di truyền, xây dựng mối quan hệ phát sinh chủng loại, nhân giống, gieo trồng. Từ năm 1959, khi Petkov lần đầu công bố về dƣợc tính của chiết xuất từ P. ginseng, đến nay đã có trên 6.000 công trình về các phƣơng thức sử dụng, thành phần hóa học, các đặc tính sinh học và dƣợc học của sâm [11]. Do vùng phân bố hạn chế và giá trị kinh tế cùng nhu cầu tiêu dùng rất cao nên nhiều loài thuộc chi Panax đã bị khai thác quá mức và trở nên rất Vietnam Academy of Science and Technology 4 hiếm trong tự nhiên [12,13].
Nhiều quốc gia đã triển khai các chƣơng trình bảo tồn, khai thác và sử dụng bền vững các nguồn gen đặc biệt quý hiếm này, nhƣ sâm Triều Tiên/ Hàn Quốc, sâm Trung Quốc và sâm Mỹ đƣợc trồng thƣơng mại và phổ biến nhất [11]. Gần đây, sâm Việt Nam cũng đƣợc ƣu tiên phát triển thành sản phẩm quốc gia.2 Sâm Ngọc Linh Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) thuộc chi Nhân sâm (Panax L.) là một trong những loài cây dƣợc liệu quý hiếm và đặc hữu của Việt Nam, đƣợc sử dụng nhƣ thảo dƣợc giúp phục hồi và tăng cƣờng sức khỏe. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về phân loại và xác định thành phần loài của chi Panax cho thấy chi này gồm 3 loài mọc tự nhiên có giá trị làm thuốc bao gồm P. stipuleanatus Tsai et Feng (Tam thất hoang), P.
vietnamensis Ha et Grushv. Sâm Ngọc Linh còn có các tên gọi khác là sâm Việt Nam, sâm khu Năm (K5), sâm trúc (sâm đốt trúc, trúc tiết sâm), củ Ngải rọm con hay cây Thuốc giấu. Sâm Ngọc Linh đƣợc phát hiện vào năm 1973 và đến năm 1985 mới đƣợc công bố là hoàn toàn mới đối với khoa học [3]. Sâm Ngọc Linh mọc dày thành đám dƣới tán rừng dọc theo các suối ẩm trên đất nhiều mùn, mọc tập trung chủ yếu ở chân núi Ngọc Linh, thuộc các huyện Trà My, Trà Lĩnh, Trà Giang, tỉnh Quảng Nam.
Hai thứ khác của P. vietnamensis đƣợc phát hiện gần đây là P. vietnamensis Ha et Grushvitzky var.Trieu (sâm Lang Bian) đƣợc phát hiện ở vùng núi Langbian, Lâm Đồng. Ngoài ra, Panax sp.
(sau đây gọi là Panax sp. Puxailaileng) phân bố ở vùng núi Puxailaileng thuộc tỉnh Nghệ An đƣợc xác định là một thứ của sâm Ngọc Linh và cần các nghiên cứu sâu hơn [14]. Gần đây, phân tích cây phát sinh chủng loại dựa trên vùng ITS-rDNA và matK, Pham et al. (2020) đã xác định sâm Puxailaileng là P.
Tƣơng tự nhƣ nhiều loài thuộc chi Panax, sâm Ngọc Linh trở nên cực kỳ quý hiếm trong tự nhiên đƣợc đƣa vào Danh lục đỏ của IUCN (2003) và Sách đỏ Việt Nam (2007) do phạm vi phân bố hạn chế và việc khai thác quá mức.1 Các loài tự nhiên thuộc chi Panax ở Việt Nam mô tả một số đặc điểm hình thái của các loài/ thứ thuộc chi Panax ở Việt Nam (bao Vietnam Academy of Science and Technology 5 gồm sâm Ngọc Linh, sâm Lai Châu, sâm Nghệ An, sâm Vũ diệp, Tam thất hoang) sử dụng trong định loại hình thái [4-5, 7, 14]. 1 Các loài tự nhiên thuộc chi Panax ở Việt Nam A: Hình dạng cây Panax vietnamensis Ha et Grushv. 5 năm tuổi; B: Thân rễ P. Vietnam Academy of Science and Technology 6 vietnamensis 7 năm tuổi; C: Đặc thù hoa P.
vietnamensis; D: Đặc thù quả P. vietnamensis [16]; E: Hình ảnh cây mọc tự nhiên của Panax vietnamensis var. fuscidicus [17]; F: Hình ảnh lá, hoa và cây mọc tự nhiên của Panax sp. Puxailaileng [14]; G: Hình vẽ Panax bipinnatifidus Seem.
theo mẫu VDL 3265: 1. Cành mang hoa; 2. Thân rễ (củ) [5]; H: Hình vẽ Panax stipuleanatus Tsai et Feng theo mẫu VDL 3270: 1. Cành mang hoa; 2.
Sâm Ngọc Linh chứa các hợp chất ginsenoside với nhiều giá trị dƣợc liệu quan trọng. Các ginsenoside có bản chất là triterpene saponin với cấu trúc bao gồm 1 khung squalene 30 carbon đƣợc gắn với các gốc đƣờng ở nhiều vị trí khác nhau trên khung. Tên của các triterpene saponin đƣợc đặt theo chi thực vật mà chúng đƣợc phát hiện lần đầu tiên (astragaloside, cucurbitacin, ginsenoside…) hoặc Rx với x là vị trí tƣơng đối hợp chất trong thí nghiệm sắc ký lớp mỏng (Ro, Ra1, Rb1, Rg1…). Hiện nay, hơn 30 loại ginsenoside đã đƣợc tách chiết từ chi Panax và đã đƣợc phân làm 2 nhóm chính là dammarane ginsenoside và oleanane ginsenoside.
Phần lớn các ginsenoside thuộc nhóm dammarane ginsenoside, bao gồm Rb1, Rc, Rd, Re, và Rg1… trong khi nhóm oleanane ginsenoside chỉ có 1 đại diện duy nhất là Ro. Các con đƣờng sinh tổng hợp ginsenoside đƣợc chia thành hai phần: (1) acetyl-CoA trải qua tác dụng của mevalonate (MVA) để tạo thành 3-isoprene pyrophosphate (IPP) và dimethylallyl pyrophosphate (DMAPP), sau đó IPP và DMAPP đƣợc xúc tác bởi các enzym khác nhau để tạo thành 2,3- oxidosqualene; và (2) các loại ginsenoside đƣợc hình thành nhờ các phản ứng vòng hóa, hydroxyl hóa và glycosyl hóa hợp chất 2,3-oxidosqualene.