Chương I. Tổng quan về ngành sản xuất nông nghiệp và phương pháp thống kê phân tích Chương II. Phân tích biến động giá trị sản xuất nông nghiệp của Việt Nam giai đoạn 2008-2018 và dự đoán đến năm 2020 CHUONG I TONG QUAN VE NGANH SAN XUAT NONG NGHIEP VA PHUONG PHAP THONG KE PHAN TICH 1. Vị trí, vai trò, đặc điểm của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân 1.Vị trí và vai trò của ngành nông nghiệp Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế có vai trò quan trọng, là ngành kinh tế sản xuất vật chất cơ bản của xã hội.
Với việc sử dụng nguyên liệu đầu vào là đất dai dé trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trông và vật nuôi dé tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho ngành công nghiệp. Nông nghiệp là ngành sản xuất lớn, nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì có ngành chăn nuôi, ngành trồng trọt, ngành dịch vụ nông nghiệp. Nhưng hiểu theo nghĩa lớn hơn nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành nuôi trồng thủy sản. Ở hau hết các quốc gia đang phát triển, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng với GDP của đất nước do chủ yếu người dân sống bằng nghề nông.
Còn với các quốc gia phát triển, nông nghiệp không phải là ngành kinh tế chính nhưng khối lượng nông sản khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đầy đủ cho cuộc sông của con người là lương thực thực phẩm. Đây là sản phẩm thiết yếu quyết định sự tồn tại phát triển con người và phát triển kinh tế đất nước. Nông nghiệp đảm bảo cung cấp các yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị. Ở những nước dang phát triển, nông nghiệp là khu vy dự trữ và cung cấp nguồn lao động cho sự phát triển công nghiệp.
Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, phần lớn dân cư sống tập trung ở nông thôn với nghề nông nghiệp, vì thế khu vực nông nghiệp là nơi dự trữ nguồn nhân lực đồi dào cho sự phát triển đô thị và công nghiệp. Quá trình đô thị hóa và công nghiệp diễn ra phát sinh ra nhu cầu lớn về lao động, năng suất lao động nông nghiệp theo đó dần tăng lên do đó giải phóng một phần lực lượng lao động trong nông nghiệp. Số lao động này dịch chuyên sẽ bố sung cho nền công nghiệp và sẽ ngày một gia tăng theo quy luật của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Khu vực nông nghiệp còn cung cấp đầu vào to lớn cho ngành công nghiệp chế biến.
Thông qua quá trình này, giá trị của nông sản nâng lên nhiều lần từ đó nâng cao giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng, nâng cao khả năng cạnh tranh, tiếp cận với nhiều thị trường mới. Bên cạnh đó, nông nghiệp và nông thôn là thị trường rộng lớn dé tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ. Các sản phẩm công nghiệp bao gồm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng được tiêu thụ ở khu vực nông nghiệp và nông thôn khá lớn. Áp dụng những tiễn bộ kỹ thuật, máy móc công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp sẽ nâng cao thu nhập cho nông dân, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn từ đó nhu cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, đấy mạnh công nghiệp phát trién.
Ngành sản xuất nông nghiệp không chỉ đơn thuần là nguồn cung lương thực thực phâm cho quốc gia mà còn đem lại thu nhập về ngoại tệ thông qua xuất khẩu nông sản. Đối với những nước như Việt Nam, Thái Lan, Cuba, Braxin. nguồn ngoại tệ thu về khá lớn, góp phần tăng trưởng GDP của đất nước. Đặc điểm sản xuất nông nghiệp Đặc điểm sản xuất nông nghiệp đầu tiên đó là đất đai là phương tiện sản xuất chính và không thé thay thé được.
Dat đai là điều kiện cần thiết cho hàng ngàn nghành sản xuất nhưng đối với mỗi ngành có mục đích kinh tế là khác nhau. Trong công nghiệp, đất đai là nền móng được sử dụng để xây dựng nhà máy, công trình giao thông công cộng, dự án thủy điện. để người dân tiếp tục sản xuất công nghiệp. Đối với nông nghiệp, đất đai được khai thác trực tiếp cho người dân dé trong trọt va chăn nuôi.
Dat dai có diện tích bị giới hạn, người dân không thể làm tăng diện tích nhưng sức sản xuất đất không giới hạn, người dân có thể khai thác chuyên sâu dé đáp ứng nhu cầu lương thực và thực phẩm ngày càng tăng. Do đó, việc khai thác đất phải luôn đi đôi với bảo vệ. Chúng ta cần biết quý trọng đất đai, sử dụng nó một cách tiết kiệm và hiệu quả, hạn chế chuyền đôi đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và luôn có biện pháp cải tạo đất để đạt năng suất cao hơn và phí dau vào thâp hơn trên moi don vi sản phâm sản xuât ra. Thứ hai, sản xuất nông nghiệp được tiễn hành trên địa bàn rộng lớn, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và mang tính khu vực rõ rệt.
Mỗi quốc gia, mỗi vùng địa lý đều có điều kiện đất đai khí hậu khác nhau. Lịch sử hình thành các loại đất đai và khí hậu, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất trên mỗi khu vực cũng không giống nhau. Điều kiện thời tiết như lượng mưa, độ ầm, nhiệt độ, ánh sáng. ảnh hưởng một cách mật thiết với điều kiện hình thành và sử dụng đất.
Do vậy, mỗi quốc gia, mỗi khu vực nền nông nghiệp mang tinh chat riêng của khu vực, quôc gia đó. Thứ ba, đối tượng của ngành nông nghiệp là cơ thé sống cây trồng và vật nuôi. Các loại cây và vật nuôi chúng phát triển thao quy luật sinh học nhất định. Chúng rất nhạy cảm với yếu tố bên ngoài, những sự thay đổi về thời tiết, khí hậu đều ảnh hưởng trực tiếp 6 đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi và đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng.
Cây trồng và vật nuôi là tư liệu sản xuất đặc biệt bởi lẽ sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước được sử dụng trực tiếp làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau. Dé nâng cao chất lượng giống cây trồng và vật nuôi , cần phải thường xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập thêm những giống tốt, tiến hành lai tạo dé tạo ra những giống mới có năng suất tốt, chất lượng cao phù hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương. Thứ tư, sản xuất nông nghiệp cho thấy tính thời vụ rõ ràng. Đây là đặc điểm tiêu biểu nhất, bởi vì một mặt sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế gắn liền với quá trình sinh sản tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ với nhau, nhưng nó không hoàn toàn giống nhau, tạo ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp.
Mặt khác, do sự thay đổi của điều kiện thời tiết - khí hậu, mỗi loại cây trồng có một sự thích nghi nhất định với điều kiện đó, dẫn đến các mùa khác nhau. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng - một loại cây xanh cực kỳ lớn, có khả năng hấp thụ và lưu trữ năng lượng mặt trời để chuyền từ vật liệu vô cơ sang hữu cơ, nguồn thực pham cơ bản cho người và vật nuôi. Vì vậy, tính thời vụ có tác động rất quan trọng đối với nông dân. Lợi thế tự nhiên đã rất ưu ái cho con người, nếu biết tận dụng chúng thì có thể sản xuất các sản phẩm nông nghiệp với chất lượng tốt nhất.
Dé khai thác và tận dụng tối đa các món quà tự nhiên cho nông nghiệp, cần thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ vào thời điểm tốt nhất như thời VỤ gieo trồng, bón phân, làm cỏ, tưới tiêu, thu hoạch v. Một số khái niệm về kết quả sản xuất nông nghiệp s* Kết quả sản xuất Là toàn bộ giá trị của sản phâm vật chât và dịch vụ hữu ích được tạo ra bởi lao động của toàn ngành nông nghiệp tạo ra trong một thời gian tính toán. Các dạng biểu hiện của kết quả hoạt động sản xuất s* Theo tính chất sản phâm có 3 loại: Sản phẩm chính là sản phâm thu được thuộc mục đích chính trong quá trình sản xuât. Sản phẩm phụ là sản phẩm thu được thuộc mục đích thứ yếu trong quá trình sản xuât.
Ví dụ như trong trồng lúa thì sản phẩm chính là thóc,sản phẩm phụ là rơm, da. Sản phẩm kép đây là hai hay nhiều sản phẩm cùng thu được với sản phẩm chính trong quá trình sản xuất. s* Theo mức độ hoàn thành Thành phẩm là những sản phẩm đã trải qua toàn bộ các giai đoạn của quá trình sản xuất và đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật. Trong nông nghiệp, thành phẩm thu được đó là thóc, ngô, khối lượng thịt hơi.
Bán thành phẩm là sản phẩm đã hoàn thành trong một số giai đoạn của quá trình sản xuất nhưng chưa hoàn thiện, bán thành phẩm có thể được tiêu thụ trên thị trường. Chang han, dé cấy lúa, người nông dân cần phải reo mạ, số ma dư sẽ được bán di. Sản phẩm dở dang đó là những sản phẩm chưa hoàn thành ở một giai đoạn san xuất nào đó, trong nông nghiệp, sản phẩm sản xuất dé dang là những chi phí đã được sử dụng ra dé trồng trọt, chăn nuôi những sản phẩm năm sau mới thu hoạch. s* Don vị đo lường Két quả sản xuât được biêu hiện băng các sản phâm, sản phâm vật chat và san phẩm dịch vụ.
Các sản phẩm đo lường theo đơn vi hiện vật hoặc don vi giá tri. Chỉ tiêu sản phẩm hiện vật biểu hiện khối lượng sản phẩm được sản xuất ra theo các đơn vị đo lường tự nhiên như tan, mét, lít, con, quả, mét vuông. tùy theo từng loại sản phẩm. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất nông nghiệp 1.
Sự cần thiết của xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê kết quả sản xuất Do cách tiếp cận dé thu thập và khảo sát dữ liệu trong lĩnh vực nông nghiệp rất khác nhau, tùy thuộc vào mức độ phát triển kinh tế, tài trợ nghiên cứu, lãnh đạo của tổ chức và yêu cầu thông tin nông nghiệp. Trong mỗi thời kỳ của mỗi khu vực, mỗi quốc gia có tiêu chí và mức độ chỉ tiết khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất nông nghiệp về cơ ban phản ánh khối lượng sản pham thu được từ các loại sản phẩm như trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ.