Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Lý thuyết chung về phân tích BCTC trong doanh nghiệp Chương 3: Phân tích BCTC của Công ty TNHH tập đoàn EVD Chương 4: Một số giải pháp nâng cao năng lực tài chính của Công ty TNHH tập đoàn EVD 8 CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 3. Khái niệm và ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 3. Một số khái niệm liên quan Báo cáo tài chính Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những quan hệ kinh tế đó bao gồm: - Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước - Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác - Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp.
Những quan hệ kinh tế trên được biểu hiện trong sự vận động của tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, vì vậy thường được xem là các quan hệ tiền tệ. Những quan hệ này một mặt phản ánh rõ doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế độc lập, là chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời phản ánh rõ nét mối liên hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các khâu khác trong hệ thống tài chính Báo cáo tài chính (BCTC) là bản báo cáo tổng hợp về tình hình hoạt động của một doanh nghiệp. Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực chế độ kế toán hiện hành nguyên tắc kế toán và tổ chức kế toán tại đơn vị phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của doanh nghiệp. Theo đó, BCTC chứa đựng những thông tin tổng hợp nhất về tình 9 hình tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 1 (IAS 1) “Báo cáo tài chính cung cấp thông tin tình hình tài chính, kết quả hoạt động tài chính cũng như lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp và đó là thông tin có ích cho việc ra quyết định kinh tế”.
Còn ở Việt Nam, trong hệ thống kế toán Việt Nam, báo cáo tài chính là loại báo cáo kế toán phản ánh một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Hệ thống BCTC ban hành theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 bao gồm các mẫu biểu báo cáo sau: - Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01 - DN) - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02 - DN) - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03 - DN) - Thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09 - DN) Phân tích báo cáo tài chính Hiện nay có rất nhiều khái niệm về phân tích báo cáo tài chính, nhưng có thể khái quát lại như sau: Phân tích BCTC là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Thông qua việc phân tích BCTC nhằm cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp. Đối tượng nghiên cứu của phân tích BCTC là những thông tin trình bày trên các BCTC bao gồm các thông tin như cơ cấu tài sản, nguồn vốn, thu nhập, chi phí, các rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
Những thông tin trên BCTC hợp lý và đầy đủ sẽ giúp cho công tác phân tích BCTC có được ý nghĩa thiết thực và giúp người sử dụng thông tin BCTC đưa ra các 10 quyết định chính xác và kịp thời. Ý nghĩa phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính có một ý nghĩa rất quan trọng nhằm đánh giá tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian hoạt động nhất định. Trên cơ sở đó, giúp chủ thể liên quan đến doanh nghiệp đưa ra các quyết định chuẩn xác trong quá trình kinh doanh. Bởi vậy, việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ hơn bức tranh về thực trạng hoạt động tài chính, xác định đầy đủ và đúng đắn những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Từ đó, có những giải pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính của doanh nghiệp. Phân tích BCTC có ý nghĩa trong việc cung cấp thông tin cho các nhóm đối tượng. Các đối tượng quan tâm đến thông tin của doanh nghiệp có thể được chia thành 2 nhóm: Nhóm có quyền lợi trực tiếp và nhóm có quyền lợi gián tiếp. Nhóm có quyền lợi trực tiếp bao gồm: các cổ đông, các nhà đầu tư, các chủ ngân hàng, các nhà cung cấp tín dụng, các nhà quản lý trong nội bộ doanh nghiệp.
Đối với nhà quản trị doanh nghiệp Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng thanh toán. Với lợi thế nắm bắt được đầy đủ thông tin và hiểu rõ về doanh nghiệp, ngoài lợi nhuận, các nhà quản trị doanh nghiệp còn phải quan tâm đến nhiều mục tiêu khác nhau như tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, hạ chi phí thấp nhất và bảo vệ môi trường. Để đạt được mục tiêu đó, người quản lý doanh nghiệp phải đưa ra các quyết sách đúng như: ü Các quyết định đầu tư dài hạn và ngắn hạn. 11 ü Việc tìm kiếm nguồn tài trợ.
ü Sử dụng vốn và tài sản sao cho có hiệu quả cao nhất. Như vậy, mục tiêu cơ bản và thử thách sống còn của doanh nghiệp là đảm bảo khả năng thanh toán và kinh doanh có lãi. Chỉ quá trình phân tích Báo cáo tài chính thận trọng và đầy đủ mới có thể tìm ra mấu chốt và những vấn đề còn bất cập trong toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ như về hiệu quả sử dụng tài sản cố định còn chưa hiệu quả, vòng quay vốn lưu động thấp, khả năng thanh toán không đủ đáp ứng dẫn đến nguy cơ phải giải phóng tài sản để thanh toán nợ đến hạn.
trên cơ sở đó mới có thể tìm giải pháp hữu hiệu để khắc phục. Đối với các nhà đầu tư. Đây là các doanh nghiệp, các cá nhân quan tâm trực tiếp đến tính toán các giá trị doanh nghiệp, họ giao vốn cho doanh nghiệp sử dụng và sẽ cùng chịu mọi rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải. Thu nhập của nhà đầu tư là tiền chia lợi tức từ lợi nhuận và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư.
Hai yếu tố này phụ thuộc của lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tư hiện tại cũng như các nhà đầu tư tiềm năng thì mối quan tâm trước hết của họ là việc đánh giá những đặc điểm đầu tư của doanh nghiệp. Các đặc điểm này có yếu tố rủi ro, sự hoàn hảo, lãi cổ phần hoặc tiền lời, sự bảo toàn vốn, khả năng thanh toán vốn, sự tăng trưởng và các yếu tố khác. Các nhà đầu tư quan tâm đến sự an toàn về vốn đầu tư của họ thông qua tình hình được phản ánh trong điều kiện tài chính của doanh nghiệp và tình hình hoạt động của nó.
Mặt khác, các nhà đầu tư còn quan tâm tới thu nhập của doanh nghiệp. Họ quan tâm tới tiềm năng tăng trưởng, các thông tin liên quan đến việc doanh nghiệp đã giành những nguồn tiềm năng gì và như thế nào, những loại rủi ro nào mà doanh nghiệp đang phải đối mặt. 12 Ngoài ra, các nhà đầu tư còn quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả của công tác quản lý trong doanh nghiệp để có thể ra các quyết định có nên tiếp tục đầu tư vào doanh nghiệp trong tương lai hay không. Đối với các nhà cho vay Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Vì vậy chỉ tiêu mà các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng đặc biệt chú ý là số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, họ cũng rất quan tâm đến số lượng vốn chủ sở hữu vì đó là khoản đảm bảo cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro. Đồng thời các nhà cho vay cũng quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp vì đó chính là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay. Nhóm có quyền lợi gián tiếp bao gồm: các cơ quan quản lý nhà nước khác ngoài cơ quan thuế, người lao động,… Đối với cơ quan nhà nước Đối với cơ quan quản lý nhà nước, qua việc phân tích Báo cáo tài chính doanh nghiệp, sẽ đánh giá được năng lực lãnh đạo của Ban Giám đốc, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước nữa hay không.
Đồng thời các cơ quan quản lý nhà nước khác của chính phủ cần các thông tin từ phân tích báo cáo tài chính để kiểm tra tình hình tài chính, kiểm tra tình hình kinh doanh của doanh nghiệp và xây dựng kế hoạch và các chính sách phù hợp nhằm làm cho tình hình tài chính doanh nghiệp nói riêng và tình hình tài chính quốc gia nói chung ngày càng tăng trưởng. Đối với người lao động Lương là khoản thu nhập chính đối với những người lao động trong doanh nghiệp. Vì vậy, người hưởng lương buộc phải quan tâm đến tình hình 13 tài chính của doanh nghiệp. Cách quan tâm của người hưởng lương đến tình hình tài chính của doanh nghiệp một cách đơn giản hơn các đối tượng khác, câu hỏi lớn nhất mà họ đặt ra là tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay không, lợi nhuận đạt đến mức nào, nếu lỗ thì là bao nhiêu, triển vọng trong tương lai là tăng lên hay gặp khó khăn? chỉ có phân tích tài chính mới có thể trả lời được câu hỏi này.