CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 1. Sơ lược sự phát triển của nhân trắc học trên thế giới và Việt Nam. Nhân trắc học là môn khoa học dùng các phương pháp toán học và thống kê để nhận định và phân tích sự đo đạc các kích thước của cơ thể con người nhằm: - Tìm hiểu những qui luật phát triển hình thái người. - Vận dụng những qui luật đó vào giải quyết những yêu cầu thực tiễn cuả khoa học, kỹ thuật sản xuất vào đời sống.
Y tế: - Điều tra đánh giá sự phát triển thể lực , chuẩn đoán các bệnh làm thay đổi hình thái cơ thể. - Đánh giá thể lực trong tuyển quân, tuyển vận động viên TDTT. Sản xuất: - Xây dựng các tiêu chuẩn kích thước người để thiết kế máy móc, phương tiện sản xuất ( máy kéo sợi, ô tô. - Sản xuất các phương tiện sinh hoạt ( giường, tủ, quần áo.
Ngoài ra còn giúp tìm : - Qui luật phát triển cơ thể. - Phân loại dạng người. - Phân loại chủng tộc. - Tìm hiểu nguồn gốc loài người.
Nhân trắc học là một môn khoa học dùng các phương pháp đo trên cơ thể người và sử dụng toán học, phương pháp thống kê để phân tích những kết quả đođược nhằm tìm hiểu các qui luật về sự phát triển hình thái cơ thể người, đồng thời vận dụng các qui luật đó vào vịệc giải quyết những yêu cầu thực tiễn của khoa học, kỹ thuật, sản xuất và đời sống (trích theo Atlat nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động). Nhân trắc học là một môn học đã có từ rất lâu, có thể nói rằng ngay từ khi con người biết đo chiều cao của mình, biết mình nặng bao nhiêu kilô là đã bắt đầu làm nhân trắc. Nguyễn Trung Hiếu 3 Ngành Công nghệ Vật liệu Dệt may Luận văn Thạc sỹ khoa học GVHD: PGS. Trần Bích Hoàn Ngay từ ngày đầu mới xuất hiện trắc học đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Dấu hiệu nhân trắc học được sử dụng để tìm hiểu các đặc trưng hình thái, chủng tộc của các cộng đồng người ( trong nhân chủng học ứng dụng ) để xác định những biến đổi về hình thái cơ thể dưới ảnh hưởng của bệnh lý ( trong y học) để thiết kế quân trang, quân dụng, ứng dụng trong may mặc. Có thể nói nhân trắc học hình thành và phát triển song song với lịch sử phát triển khoa học về người ( nhân học ) ở các nước Châu Âu.RudolfMartin nhà nhân học Đức, tác giả “ Giáo trình về nhân học ” được coi là người đặt nền móng cho khoa học nhân trắc. Các trường phái nhân học tiếp sau đó đều dựa vào cơ sở phương pháp Martin mà bổ sung và hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn theo truyền thông khoa học của từng nước. Trong chương trình nghiên cứu sinh học thế giới IBP ( International Bilogical Programme ) do UNESCO chỉ đạo, triển khai vào những năm 1960 và 1970, người ta đã thấy nhân trắc học được quan tâm đặc biệt, thu hút nhiều nhà nghiên cứu nhân trắc học có tên tuổi trên thế giới.
Những dụng cụ đo đạc nhân trắc học được tiêu chuẩn hóa vào sản xuất ở nhiều nước. Ở các nước XHCN nhân trắc học được đầu tư nghiên cứu và đạt được nhiều thành tựu, trong nhiều nước có truyền thống khoa học như Liên Xô cũ, Ba Lan, Đức, nhân trắc học đã trở thành cơ sở tin cậy cho việc xác định các tiêu chuẩn cấp Nhà Nước về sản phẩm công nghiệp, dân dụng và quốc phòng. Nhân trắc học ở nước ta bắt đầu từ những năm 1930 tại ban nhân học thuộc Viễn đông bác cổ ( Ecoled Extroome Orient). Kết quả nghiên cứu nhân trắc học đã được công bố trong các công trình nghiên cứu của Viện giải phẫu học ( Đại học y khoa đông dương 1936 – 1944 ).
Cuốn “ Hình thái học và giải phẫu học mỹ thuật ” là tác phẩm đầu tiên của bác sỹ Đỗ Xuân Hợp ( cộng tác với P.Huard) xuất bản năm 1942. Từ 1945 đến những năm 1960, bộ môn nhân trắc học dần dần được thành lập ở một số Viện nghiên cứu và trường học để làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu Từ những năm 1950 đến nay Nhân trắc học nước ta đã có những đóng góp đáng kể cho khoa học. Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội điều tra sinh học các chủng học người. Học Viện Quân Y - nghiên cứu nhân trắc học phục vụ Quốc Nguyễn Trung Hiếu 4 Ngành Công nghệ Vật liệu Dệt may Luận văn Thạc sỹ khoa học GVHD: PGS.
Trần Bích Hoàn phòng, các trường Đại học Y. Đáng lưu ý là công trình “ nghiên cứu hằng số sinh học người Việt Nam” do giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ trì năm 1967 và 1972 với sự tham gia nghiên cứu của các viện nghiên cứu và các trường. Trong những năm gần đây, một hướng mới Ecgonomi đã được đầu tư thực hiện và phát triển. Là một khoa học vì người Ecgonomi sử dụng những kết quả của y học (vệ sinh lao động) của sinh học ( giai đoạn chức năng hình thái và sinh lý lao động) của tâm lý học xã hội nhằm tối ưu hóa quá trình lao động sản xuất làm giảm gánh nặng lao động.
Theo nghĩa rộng Ecgonomi là phương hướng nghiên cứu của tất cả các khoa học vì con người khi giải quyết những nhiệm vụ của sản xuất, hay còn là sự ứng dụng trực tiếp các biện chứng của khoa học vì con người và thiết kế tổ chức lao động sản xuất. Trong các chương trình nhân trắc học hướng vào mục tiêu Ecgonomi có cuốn: “Nhân trắc học Ecgonomi ” của hai tác giả Lê Gia Khải và Bùi Thụ (1983) là một đóng góp tích cực theo hướng đó. Ngày nay nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng tăng, như nghị quyết của Đại Hội Đảng lần thứ V đã chỉ rõ “. Cần tập trung nghiên cứu các qui luật phát triển của tự nhiên, xã hội và con người Việt Nam.
Nhân trắc học cần góp phần nghiên cứu cơ bản các lĩnh vực liên quan đến con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển của nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng. Trước những đòi hỏi mới, chương trình khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước và bảo hộ lao động có đề tài: - Nghiên cứu ứng dụng Ecgonomi vào bảo hộ lao động vào áp dụng các dữ kiện nhân trắc học vào việc cải thiện lao động cho công nhân - Chương trình “ Nhân trắc học ” này mang tính tổng quát nên khi áp dụng các dấu hiệu nhân trắc vào từng ngành phải cụ thể, cần phải khảo sát bổ sung một số dấu hiệu đặc trưng cho từng nhiệm vụ thiết kế hoặc nghiên cứu nhân lực. Trong quá trình áp dụng vào chương trình đào tạo kỹ thuật viên, công nhân viên ngành công nghệ May, ta phải chọn những dấu hiệu nhân trắc đặc trưng cụ thể. Nguyễn Trung Hiếu 5 Ngành Công nghệ Vật liệu Dệt may Luận văn Thạc sỹ khoa học GVHD: PGS.
Trần Bích Hoàn Đây chính là vấn đề cốt lõi của chương trình ứng dụng Ecgonômi vào từng ngành nghề cụ thể và sát thực hơn. Có thể nói từ khi con người biết đo chiều cao, cân nặng của mình thì nhân trắc học đã được hình thành và dần phát triển. * Ứng dụng nhân trắc học vào ngành May. Nhân trắc học nghiên cứu hình thái tâm sinh lý cơ thể người do đó ứng dụng của môn khoa học này rất lớn nó phục vụ cho tất cả các ngành nghiên cứu sản xuất các thiết bị phục vụ cho nhu cầu của con người hay các thiết bị sản xuất có con người điều khiển.
Như vậy ta thấy rằng ứng dụng của nhân trắc học có mặt ở tất cả các lĩnh vực và đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt là trong ngành May mặc của chúng ta. Tầm ảnh hưởng của nhân trắc học là rất lớn vì sản phẩm của may mặc là mang, khoác, đắp, đậy, che, phủ lên hình dáng cơ thể con người. Mặc dù các công trình nghiên cứu khoa học ứng dụng nhân trắc học vào ngành may còn hạn chế so với tính chất của nó nhưng cũng đã có những đóng góp nhất định trong sự phát triển của ngành may mặc trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng. Ngoài các công trình nghiên cứu ứng dụng nhân trắc học cho lứa tuổi lao động trong ngành dệt may để thiết kế các thiết bị sản xuất, môi trường làm việc phù hợp với người lao động giúp nâng cao năng suất lao động cho ngành Dệt May thì hầu hết nhân trắc học được ứng dụng để xây dựng cỡ số trang phục cho các lứa tuổi và giới tính khác nhau.
Và việc xây dựng cỡ số trang phục là một ứng dụng có ý nghĩa thiết thực nhất của nhân trắc học vào ngành may vì muốn tạo ra các sản phẩm may mặc hàng loạt, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng một cách hiệt quả thì chúng ta phải có được một hệ thống cỡ số cơ thể người tiêu chuẩn được xây dựng trên nền tảng của các mốc đo nhân trắc học trên cơ thể người. Nước ta trước năm 1954 cũng đã biết ứng dụng nhân trắc học vàongành may đó là GS. Đỗ Xuân Hợp cùng với một số bác sĩ và sinh viên đã tiến hành những công trình nghiên cứu nhân trắc học trên thanh niên để phục vụ cho việc tuyển quân và may quân trang cho bộ đội. Đây là một trong những công trình ứng dụng nhân trắc học đầu tiên ở Việt Nam vào nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quân trang phục vụ ngành May.
Cho đến năm 1962-1965 việc tiến hành đo khảo sát cơ thể Nguyễn Trung Hiếu 6 Ngành Công nghệ Vật liệu Dệt may Luận văn Thạc sỹ khoa học GVHD: PGS. Trần Bích Hoàn người Việt Nam mới được tiếp tục thực hiện. Kết quả khảo sát đã xây dựng được một hệ thống cỡ số đối với hàng may mạc sẵn cho người lớn và trẻ em theo tiêu chuẩn Việt Nam. Hệ thống cỡ số này được kí hiệu là TCVN196/66 – 196/66.
Số đo chính trong hệ thống cỡ số này là chiều cao cơ thể. Mãi đến năm 1994, tiêu chuẩn VN-5782 về “Hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo” được ban hành đánh dấu một bước phát triển cho ngành may mặc Việt Nam.