Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Hường tiếp cận đối tượng Phan Khôi (1887–1959) trong bối cảnh đời sống văn hóa, xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX – giai đoạn chứng kiến sự tiếp xúc mang tính áp đặt giữa văn hóa phương Đông truyền thống và văn minh phương Tây thời kỳ thực dân. Trong tiến trình hiện đại hóa đó, văn học Việt Nam trải qua cuộc chuyển đổi toàn diện về quan niệm nghệ thuật, chủ thể sáng tạo, ngôn ngữ biểu đạt và hình thức thể loại. Phan Khôi xuất hiện trên văn đàn và báo giới với tư cách một cây bút nghị luận, phản biện xã hội và tranh luận văn nghệ, có vai trò tạo tiền đề thúc đẩy văn học chuyển dịch sang hệ hình hiện đại. Tuy nhiên, do những biến cố chính trị – xã hội (đặc biệt là giai đoạn phong trào Nhân văn – Giai phẩm 1955–1956), trong suốt hơn ba mươi năm, tên tuổi và sự nghiệp của Phan Khôi chịu nhiều sự dè dặt, định kiến và gần như bị lãng quên trong sinh hoạt học thuật chính thống.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: sau năm 1986, dù các tác phẩm báo chí và sáng tác của Phan Khôi đã được sưu tầm, phục chế quy mô, phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở các bài viết nhỏ lẻ, mang tính chuyên đề hoặc tiểu luận phân tích từng khía cạnh riêng biệt. Đến nay, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện, có hệ thống toàn bộ sự nghiệp văn học và báo chí của Phan Khôi nhằm định vị chính xác vị trí văn học sử của ông với tư cách một chủ thể kiến tạo trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc nửa đầu thế kỷ XX.
Mục đích nghiên cứu của luận án là: Khảo sát, phân tích những hoạt động văn học, bao gồm cả báo chí trên toàn bộ cuộc đời cầm bút của Phan Khôi để hiểu đúng vị trí văn học sử và đóng góp của ông đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành hai nội dung cụ thể:
- Khảo sát, phân tích tác phẩm (báo chí, văn xuôi tự sự, thơ, những dịch phẩm) của Phan Khôi từ cái nhìn đồng đại và lịch đại.
- Phân tích, biện luận ý nghĩa lịch sử của các tác phẩm đó với tư cách một bộ phận trong tổng thể hoạt động văn hóa – xã hội của Phan Khôi, từ đó đánh giá đóng góp của ông đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam những năm nửa đầu thế kỷ XX.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm các lĩnh vực hoạt động tư tưởng, văn học và báo chí của Phan Khôi. Về báo chí, luận án tập trung khảo sát các bài viết mang tính phản biện xã hội và tranh luận văn chương. Về sáng tác văn học, luận án đi sâu vào những tác phẩm thể hiện sự cách tân về quan niệm và lối viết. Toàn bộ các hoạt động này được đặt trong bối cảnh hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Về nội dung tư liệu: Toàn bộ sáng tác văn học của Phan Khôi gồm truyện ngắn, tiểu thuyết (Trở vỏ lửa ra), thơ ca (sáng tác những năm đầu thế kỷ XX, trọng tâm từ 1918 đến 1940); các tác phẩm báo chí bàn về canh tân tư tưởng, đổi mới hình thức viết và quan niệm nghệ thuật văn chương; các dịch phẩm (tạp văn Lỗ Tấn, các sách Kinh Thánh Tin Lành). Đồng thời, luận án sử dụng sáng tác và bài báo của một số tác giả cùng thời để so sánh, đối chiếu.
- Về thời gian: Trọng tâm khảo sát đặt vào giai đoạn cầm bút từ năm 1918 đến năm 1940 – thời kỳ Phan Khôi hoạt động sôi nổi và tạo ra nhiều tác động xã hội nhất.
- Về không gian: Không gian văn hóa và hệ thống báo chí tại ba trung tâm đô thị lớn của Việt Nam thời thuộc địa gồm Hà Nội, Huế và Sài Gòn.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án thực hiện việc điểm lược lịch sử nghiên cứu theo hai trục nội dung: công tác sưu tập, phục chế di sản văn bản và các công trình nghiên cứu, đánh giá về Phan Khôi ở trong và ngoài nước.
Về tình hình sưu tập, phục chế di sản văn bản:
Do đặc thù phần lớn tác phẩm của Phan Khôi được đăng tải trên các tờ báo có tính chất thời sự, việc thất lạc tư liệu diễn ra nghiêm trọng. Trong thời gian Phan Khôi còn sống, số lượng ấn phẩm được đóng thành sách rất ít, gồm: tập tiểu luận bình thơ Chương Dân thi thoại (1936, Nhà xuất bản Đà Nẵng in lại năm 1996); tiểu thuyết Trở vỏ lửa ra (1939, Nhà xuất bản Tân Dân); tập nghiên cứu ngôn ngữ Tìm tòi trong tiếng Việt (1950), sau đó được tác giả sửa đổi, bổ sung và đổi tên thành Việt ngữ nghiên cứu (1955, Nhà xuất bản Văn nghệ; Nhà xuất bản Đà Nẵng in lại năm 1977); tác phẩm dịch Tuyển tập tạp văn Lỗ Tấn (1956) cùng bản dịch các chương Kinh Thánh Tin Lành (Thi thiên, Châm ngôn, Nhã ca).
Tại miền Nam trước năm 1975, linh mục Thanh Lãng là người bước đầu tìm kiếm di sản báo chí của Phan Khôi trên tờ Phụ nữ tân văn qua hai công trình Phê bình văn học thế hệ 1932 (1967) và Mười ba năm tranh luận văn học 1932–1945 (1972). Tại miền Bắc sau năm 1986, tiến trình phục chế diễn ra chậm chạp. Đến năm 1998, Nguyễn Ngọc Thiện và Lữ Huy Nguyên tuyển chọn bộ tạp chí Tao Đàn đã đưa vào 6 bài viết năm 1939 của Phan Khôi.
Bước ngoặt căn bản trong công tác phục chế di sản văn bản thuộc về nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân với bộ sách 10 tập sưu tập hơn 1.000 bài báo của Phan Khôi từ năm 1928 đến 1942, tổng dung lượng hơn 7.000 trang in:
| Tên công trình sưu tập |
Năm xuất bản |
Nhà xuất bản |
Số trang / Nội dung khảo sát chính |
| Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1928 |
2003 |
Đà Nẵng |
450 trang; báo Đông Pháp thời báo (Sài Gòn). |
| Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1929 |
2005 |
Đà Nẵng |
800 trang; các báo Thần chung, Trung lập, Phụ nữ tân văn (Sài Gòn). |
| Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1930 |
2006 |
Đà Nẵng |
1010 trang; các báo Thần chung, Trung lập, Phụ nữ tân văn, Phổ thông (Hà Nội). |
| Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1931 |
2006 |
Hội Nhà văn |
1030 trang; báo Trung lập, Phụ nữ tân văn, Đông tây (Hà Nội). |
| Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1932 |
2007 |
Tri thức |
Bài viết trên Đông tây, Trung lập, Phụ nữ tân văn. |
| Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1933–1934 |
2010 |
Tri thức |
Bài viết trên Trung lập, Phụ nữ tân văn, Công luận, Thực nghiệp dân báo, Phụ nữ thời đàm. |
| Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1935 |
2011 |
Tri thức |
Bài viết trên Tràng An báo (Huế) khi Phan Khôi làm chủ bút. |
| Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1936 |
2012 |
Tri thức |
Bài viết trên tuần báo Sông Hương (Huế) do Phan Khôi làm chủ nhiệm. |
| Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1937 |
2013 |
Tri thức |
Bài viết trên Sông Hương và Đông Dương tạp chí (Hà Nội). |
| Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1938–1942 |
2017 |
Tri thức |
Bài viết trên Đông Dương tạp chí, Thời vụ, Dư luận, Ngày nay, Tao đàn, Dân báo. |
Ngoài ra, Lại Nguyên Ân còn biên soạn chuyên đề Phan Khôi vấn đề phụ nữ ở nước ta (2017), và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây đã tái bản trọn bộ 32 số tuần báo Sông Hương vào năm 2009.
Về tình hình nghiên cứu, đánh giá:
- Ở nước ngoài: Tác giả William J. Duiker trong Historical Dictionary of Vietnam đánh giá Phan Khôi là học giả Nho học cống hiến sự uyên bác cho báo chí và phát triển chữ quốc ngữ. Đài RFI phát các chuyên đề của Tạ Trọng Hiệp, Thụy Khuê, Lại Nguyên Ân giai đoạn 1996–2007 về tư tưởng học thuật và các cuộc tranh luận của ông. Tạp chí Hợp lưu số 33 (1997) tại Mỹ ra chuyên đề riêng với các bài viết của Thanh Lãng, Tạ Trọng Hiệp, Nguyễn Hưng Quốc, Phùng Bảo Thạch, Vũ Ngọc Phan. Trang web của Thụy Khuê xem Phan Khôi là học giả phản biện tiêu biểu của thế kỷ XX.
- Ở trong nước:
- Về thân thế và báo chí: Nguyễn Vỹ (1960), Hoàng Châu Thịnh (1969), Phan Thị Nga (1936 trên Hà Nội báo), Phan Thị Mỹ Khanh (hồi ký Nhớ cha tôi, Phan Khôi, 2001), Phan An Sa (Nắng được thì cứ nắng, Phan Khôi từ Sông Hương đến Nhân văn, 2013), Đỗ Ngọc Yên (2014), luận án tiến sĩ của Phạm Thị Thành (2015) về đóng góp báo chí, Ngô Quang Huy (2017) với hai tập Tác phẩm Phan Khôi, đọc và suy ngẫm.
- Về canh tân tư tưởng, xã hội: Tranh luận giữa Trần Trọng Kim và Phan Khôi trên Phụ nữ tân văn (1930) về Khổng giáo; Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965); Thanh Lãng (1967); Thiếu Sơn trong Nghệ thuật và nhân sinh (1973); Đỗ Lai Thúy (2014) bàn về sự chuyển đổi từ khẩu khí độc thoại sang đối thoại dân chủ; Huỳnh Hùng; Đào Duy Hiệp (2006); Hồ Khánh Vân (2010) đánh giá ý thức nữ quyền; Nguyễn Đăng Điệp (2008) với bài viết định danh Phan Khôi là "ngự sử văn đàn".
- Về ngôn ngữ tiếng Việt: Văn Tân phê phán một số điểm trong Việt ngữ nghiên cứu; Đoàn Xuân Kiên (1997), Bùi Vĩnh Phúc (1997), Nguyễn Văn Khang (2007) và Nguyễn Trung Tín (2008) ghi nhận công lao khảo cứu và xây dựng cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt.
- Về canh tân thơ ca: Tranh cãi quanh bài thơ Tình già (1932) chia làm hai hướng: Minh Kha (1960), Phượng Hải (1960) và Nguyễn Vỹ phủ nhận giá trị nghệ thuật, xem đó chỉ là bài vè hoặc thơ cổ phong; ngược lại, Hoài Thanh – Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam (1942), Huỳnh Văn Hoa (2002), Vu Gia (Phan Khôi – tiếng Việt, báo chí và thơ Mới, 2003), Nguyễn Q. Thắng (2007), Lê Minh Quốc (2007), Nguyễn Hữu Sơn, Lại Nguyên Ân và hội thảo khoa học tại Quảng Nam năm 2014 khẳng định tư cách người khởi xướng phong trào Thơ mới.
- Về phê bình và văn xuôi tự sự: Lưu Trọng Lư (1939 trên Tao Đàn), Thanh Lãng (1967), Mộng Bình Sơn và Đào Đức Chương (1996), Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Ngọc Thiện (2009), Nguyễn Thị Thanh Xuân (2014); các phản ứng gay gắt của Tản Đà (1932 trên An Nam tạp chí) và phân tích của Chất Hằng (1933 trên Văn học tạp chí); Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1942) ghi nhận ngôn ngữ địa phương trong tiểu thuyết Trở vỏ lửa ra; Phan Mạnh Hùng bàn về tính khẩu ngữ; Hoàng Thị Huế (2014) khảo sát truyện ngắn Ông Năm Chuột; Hà Ngọc Hòa (2014) phân tích tư duy văn phạm phương Tây trong văn xuôi Phan Khôi.
Vị trí của luận án: Kế thừa nguồn văn bản đã được phục chế và kết quả của các công trình đi trước, luận án của Hoàng Thị Hường là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện, hệ thống sự nghiệp của Phan Khôi trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, đặt ông vào vị trí một chủ thể can dự và định hình các bước chuyển văn hóa dân tộc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án triển khai nghiên cứu dựa trên các lý thuyết và phương pháp luận sau:
- Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:
- Lý thuyết "thay đổi hệ hình" (paradigm shift) do Thomas Kuhn đề xuất: Luận án nhìn nhận sự chuyển đổi văn hóa, văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX từ phạm trù trung đại phương Đông sang cận – hiện đại phương Tây dưới áp lực thực dân hóa là một bước chuyển mang tính cách mạng trong toàn bộ hệ hình tri thức. Hệ hình mới định hình lại thế giới quan, khung khổ nhận thức, hệ thuật ngữ biểu đạt, tín niệm và chuẩn mực giá trị của giới trí thức.
- Khái niệm "tính hiện đại" (modernity) trong văn học theo kiến giải của Trần Đình Sử: Tính hiện đại biểu đạt đẳng cấp giá trị và trình độ phát triển của tư duy nghệ thuật, đòi hỏi khám phá thời khắc hiện tại của đời sống, ý thức cá nhân, ngôn ngữ biểu đạt mới và tinh thần sáng tạo thoát khỏi tính quy phạm, ước lệ sùng cổ.
- Lý thuyết diễn ngôn trong thời kỳ thực dân và lý thuyết kiến tạo xã hội (social construction): Hoạt động viết của Phan Khôi được diễn giải như một hành vi diễn ngôn diễn ra tại điểm giao thoa giữa truyền thống văn hóa Đông Á ngót nghìn năm và tri thức phương Tây. Bản thân chân dung học giả Phan Khôi được hình thành từ sự tương tác biện chứng giữa bản ngã (self) và kẻ khác (other).
- Tiếp cận văn hóa học: Đặt hoạt động sáng tác và học thuật của Phan Khôi trong mối liên hệ hữu cơ với các thành tố văn hóa, chính trị, giáo dục và báo chí đương thời.
- Lý thuyết thi pháp học (thi pháp lịch sử, thi pháp thể loại) và tự sự học: Vận dụng các công cụ phân tích cấu trúc thể loại, ngôi kể, người kể chuyện, lời văn nghệ thuật để khảo sát thơ và văn xuôi tự sự.
- Phương pháp nghiên cứu thực tế:
Luận án hoàn toàn theo hướng nghiên cứu định tính của ngành văn học sử và lý luận văn học, không sử dụng các công cụ thống kê hay phân tích định lượng:
- Phương pháp văn học sử: Đặt hoạt động văn học và báo chí của Phan Khôi vào tiến trình vận động cụ thể của lịch sử văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX; phân tích tác động của bối cảnh xã hội thuộc địa đối với tư tưởng sáng tác và tinh thần học thuật của tác giả.
- Phương pháp loại hình: Khảo sát Phan Khôi dựa trên đặc điểm của mẫu hình trí thức – nghệ sĩ duy tân trong giai đoạn giao thời xã hội.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức giữa văn học, văn hóa học, lịch sử và xã hội học để lý giải các hiện tượng tranh luận học thuật và phong cách chính luận.
- Các thao tác nghiên cứu hỗ trợ: Thao tác phân tích văn bản, thao tác so sánh đồng đại và lịch đại, thao tác tổng hợp tư liệu.
- Nguồn tư liệu:
- Nguồn tư liệu văn bản sơ cấp: Các tác phẩm được xuất bản độc lập của Phan Khôi gồm Chương Dân thi thoại, tiểu thuyết Trở vỏ lửa ra, chuyên luận Việt ngữ nghiên cứu, tập dịch Tạp văn Lỗ Tấn và các bản dịch sách Kinh Thánh.
- Nguồn tư liệu báo chí: Bộ sưu tập 10 tập bài báo của Phan Khôi (1928–1942) do Lại Nguyên Ân sưu tầm; tập tư liệu chuyên đề về phụ nữ; bộ tuần báo Sông Hương tái bản; các bài báo trên Đăng cổ tùng báo, Nam Phong tạp chí, Lục tỉnh tân văn, Thực nghiệp dân báo, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phụ nữ tân văn, Trung lập, Phụ nữ thời đàm, Tràng An báo, Tao Đàn.
- Nguồn tư liệu đối sánh: Tác phẩm của các tác giả cùng thời như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn. Luận án loại trừ các tư liệu chưa được công bố thành ấn phẩm độc lập (như các bản thảo giai đoạn 1956–1959 còn lưu giữ rải rác trong gia đình).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tập trung hệ thống hóa toàn bộ lịch sử tiếp nhận, đánh giá và phục chế di sản văn bản của Phan Khôi từ năm 1930 đến năm 2017:
- Khái quát quá trình thu thập và công bố văn bản: Điểm lại các mốc xuất bản tác phẩm khi Phan Khôi còn sống và nhấn mạnh giai đoạn đứt gãy thông tin kéo dài hơn ba mươi năm sau biến cố Nhân văn – Giai phẩm. Luận án phân tích công lao phát hiện ban đầu của Thanh Lãng ở miền Nam, các xuất bản bước đệm sau 1986 của Nguyễn Ngọc Thiện, Lữ Huy Nguyên, và khẳng định công trình phục chế của Lại Nguyên Ân qua bộ sách 10 tập (hơn 7.000 trang, hơn 1.000 bài báo) đã tạo tiền đề tư liệu cho việc nghiên cứu tác giả một cách có hệ thống.
- Tổng thuật các khuynh hướng nghiên cứu: Phân loại ý kiến đánh giá thành 4 nhóm vấn đề chính: (1) Đánh giá về thân thế và phong cách báo chí chính luận; (2) Đánh giá về vai trò canh tân tư tưởng, tranh luận học thuật (vấn đề Nho giáo, nữ quyền, duy vật – duy tâm); (3) Đánh giá về công trình nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt (các tranh luận giữa Văn Tân, Đoàn Xuân Kiên, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn Khang); (4) Đánh giá về vai trò khởi xướng phong trào Thơ mới (qua bài Tình già) và thực hành văn xuôi tự sự, phê bình văn học.
- Xác định khoảng trống khoa học: Chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu là tiểu luận đơn lẻ hoặc bài tham luận hội thảo; việc thực hiện một đề tài nghiên cứu toàn diện về đóng góp của Phan Khôi đối với tiến trình hiện đại hóa văn học là yêu cầu khách quan của lịch sử nghiên cứu.
Chương 2: Phan Khôi - từ khát vọng canh tân xã hội đến hoạt động văn hóa, văn học
Chương 2 làm rõ tiến trình chuyển biến tư tưởng và con đường nhập thế của Phan Khôi gắn liền với sự hình thành mẫu hình trí thức duy tân trong bối cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX:
- Khái niệm hiện đại hóa và mẫu hình trí thức mới: Phân tích cuộc chuyển dịch văn hóa lần thứ hai của Việt Nam (tiếp xúc văn minh phương Tây) thay thế cho không gian khép kín Đông Á trung đại. Quá trình này làm nảy sinh tầng lớp trí thức mới: từ các sĩ phu Nho học duy tân trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng) với chủ trương dùng chữ quốc ngữ mở mang dân trí, đến lớp trí thức tự do hoạt động chuyên nghiệp trong môi trường báo chí và xuất bản đô thị.
- Con đường dấn thân báo chí của Phan Khôi:
- Xuất thân Nho học (đỗ tú tài năm 1906), Phan Khôi từ bỏ khoa cử, tự học tiếng Pháp, cắt búi tóc, tham gia phong trào Duy Tân tại Quảng Nam và viết cho tờ Đăng cổ tùng báo (1907) với bút hiệu Tout seul. Sau biến cố chống sưu thuế năm 1909, ông bị kết án ba năm tù; thời gian này ông tiếp tục kiên trì học tiếng Pháp trong ngục.
- Giai đoạn làm báo chuyên nghiệp: Năm 1918, ông làm việc cho Nam Phong tạp chí nhưng sớm rời bỏ vì bất đồng quan điểm học thuật với Phạm Quỳnh. Năm 1919, ông cộng tác với Lục tỉnh tân văn tại Sài Gòn, viết các bài phổ biến thường thức công dân và mục "Ghi chép tiếng An Nam", nhưng bị buộc dừng vì các bài phản biện xã hội kịch liệt.
- Giai đoạn hoạt động sôi nổi (1928–1936): Viết bài và phụ trách các chuyên mục trên Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phụ nữ tân văn, Trung lập, Phụ nữ thời đàm, Tràng An báo, Sông Hương. Luận án nhấn mạnh Phan Khôi chủ yếu chọn cộng tác với báo chí tư nhân để duy trì tính độc lập tư tưởng và thực hiện quyền tự do ngôn luận.
- Canh tân tư tưởng và phản biện xã hội: Luận điểm trung tâm của chương là xác định tư cách phê bình văn chương của Phan Khôi nằm thống nhất trong tư cách nhà phản biện xã hội. Phan Khôi dùng tư duy logic học phương Tây để đả phá tính chất bảo thủ của Nho giáo, tham gia tranh luận về bản chất Khổng giáo với Trần Trọng Kim, phê phán tư tưởng phong kiến hủ bại, cổ vũ giải phóng phụ nữ và quyền bình đẳng giới.
Chương 3: Phan Khôi và việc canh tân thơ Việt
Chương này đánh giá vai trò của Phan Khôi trong bước chuyển biến thể loại từ thi pháp thơ ca trung đại sang phong trào Thơ mới:
- Thẩm định thơ qua "Chương Dân thi thoại": Khảo sát tập thi thoại xuất bản năm 1936 (tập hợp các bài viết từ 1918 đến 1931 trên Nam Phong, Đông Pháp thời báo, Phụ nữ tân văn). Luận án phân tích lối bình thơ không theo quy tắc tầm chương trích cú cũ mà vận dụng tư duy phân tích rành mạch, kết hợp văn phong khẩu ngữ mộc mạc, chất phác, thậm chí dùng từ ngữ thông tục để phá vỡ tính trang nghiêm, quy phạm của thi pháp cổ điển.
- Tuyên ngôn về thơ mới: Phân tích bài viết "Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ" và bài thơ Tình già đăng trên tờ Phụ nữ tân văn số 122 (ngày 10/3/1932). Luận án chứng minh đây là một hành động mang tính tuyên ngôn, giải phóng thi ca tiếng Việt khỏi niêm luật, vần đối gò bó của thơ Đường luật nhằm đáp ứng nhu cầu biểu đạt cảm xúc cá nhân của con người thời hiện đại.
- Hiệu ứng xã hội từ quan niệm thơ của Phan Khôi: Khảo sát các làn sóng tranh luận gay gắt giữa phái thơ cũ và phái thơ mới trên báo chí ba miền giai đoạn 1932–1935. Dù chính tác giả có lúc phát biểu bài thơ làm theo điệu cổ phong Trung Hoa, tác động thực tế của bài viết và văn bản Tình già đã trở thành cú hích lịch sử, tạo điều kiện cho thế hệ thi sĩ lãng mạn (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ...) tự tin công bố các thể nghiệm nghệ thuật mới.
Chương 4: Văn xuôi tự sự Phan Khôi giữa các hình thức tự sự Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX
Chương này khảo sát các sáng tác văn xuôi (truyện ngắn và tiểu thuyết) của Phan Khôi nhằm làm rõ đặc điểm thi pháp nghệ thuật trong giai đoạn chuyển đổi hình thức tự sự:
- Khuynh hướng tả thực: Khảo sát tiểu thuyết Trở vỏ lửa ra (1939) và các truyện ngắn (như Ông Năm Chuột). Luận án phân tích nghệ thuật miêu tả đời sống gắn liền với hiện thực đời thường, loại bỏ các chi tiết ước lệ, ước đoán của văn học trung đại. Tác giả vận dụng triệt để ngôn ngữ khẩu ngữ, tiếng lóng, từ ngữ địa phương Quảng Nam và Nam Bộ vào đối thoại của nhân vật, đưa ngôn ngữ văn xuôi tiệm cận lời ăn tiếng nói hàng ngày.
- Xu hướng luận đề: Văn xuôi Phan Khôi mang đậm tính chất chính luận và tư tưởng cải cách xã hội. Các nhân vật, tình huống truyện thường được xây dựng nhằm mục đích tranh luận, chất vấn các định kiến đạo đức phong kiến, cổ súy quyền sống của người phụ nữ hoặc phê phán thói đạo đức giả.
- Trạng thái lưỡng lự trong thi pháp tự sự: Luận án phát hiện trạng thái giao thời thể hiện rõ trong kết cấu tác phẩm và nghệ thuật trần thuật. Ở Phan Khôi có sự đan xen giữa lối kết cấu chương hồi, sử dụng lời trữ tình ngoại đề của người kể chuyện theo kiểu truyền thống với các kỹ thuật tự sự hiện đại phương Tây (ngôi kể khách quan, phân tích tâm lý nhân vật qua hành động cụ thể).
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ quy luật chuyển biến hệ hình nghệ thuật của văn học dân tộc trong bối cảnh xã hội thuộc địa. Việc vận dụng các khái niệm về thay đổi hệ hình tri thức của Thomas Kuhn và lý thuyết diễn ngôn thời kỳ thực dân giúp giải thích tính phức tạp, trạng thái giằng co giữa các giá trị Nho giáo truyền thống và tư tưởng dân chủ, khoa học phương Tây trong tư tưởng của người cầm bút giai đoạn giao thời. Luận án xác lập cách tiếp cận tích hợp: xem xét hoạt động phê bình văn học của Phan Khôi trong chỉnh thể của hoạt động báo chí phản biện xã hội và canh tân văn hóa, tránh được lối tiếp cận cô lập thuần túy văn bản.
Về mặt thực tiễn, luận án đạt được các kết quả cụ thể:
- Đánh giá toàn diện, có hệ thống toàn bộ di sản văn học và báo chí của Phan Khôi dựa trên nguồn văn bản tư liệu đã được phục chế từ năm 1928 đến năm 1942.
- Minh định lại vị trí văn học sử của tác giả: khẳng định Phan Khôi giữ vai trò người mở đường cho phong trào Thơ mới thông qua bài thơ Tình già (1932); là một trong những cây bút tiên phong xây dựng thể loại báo chí chính luận, phê bình văn học theo tinh thần đối thoại dân chủ; và là người có đóng góp quan trọng trong việc hiện đại hóa ngôn ngữ văn xuôi tiếng Việt qua việc sử dụng khẩu ngữ đời sống.
- Khắc phục những nhận định phiến diện, quá khắt khe hoặc thiên kiến lịch sử từng tồn tại đối với Phan Khôi suốt nhiều thập kỷ; cung cấp một tài liệu tham khảo có hệ thống cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Về kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Luận án đề xuất mô hình phương pháp luận tiếp cận liên ngành (văn học sử, văn hóa học, thi pháp học thể loại) để tiếp tục ứng dụng vào việc "phục chế" và đánh giá lại các tác giả, tác phẩm khác trong lịch sử văn học dân tộc từng bị lãng quên hoặc gián đoạn do hoàn cảnh lịch sử.
- Đề xuất giới nghiên cứu văn học sử cần tiếp tục sưu tầm, bổ sung các trước tác của Phan Khôi còn tản mạn trong các giai đoạn sau (1945–1959) nhằm tiến tới việc biên soạn một bộ Toàn tập Phan Khôi hoàn chỉnh trong tương lai.
- Rút ra bài học lịch sử về việc tiếp nhận văn hóa ngoại sinh và xử lý mối quan hệ giữa bản sắc truyền thống và tinh thần hiện đại, làm cơ sở tham khảo cho quá trình hội nhập văn hóa của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế: Do hoàn cảnh lịch sử và tính chất phân tán của nguồn tư liệu gốc, luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở các tác phẩm văn học và bài báo của Phan Khôi đã được sưu tầm, biên soạn và ấn hành thành các ấn phẩm độc lập (chủ yếu tập trung ở giai đoạn 1918–1942). Luận án chưa thể bao quát trọn vẹn các sáng tác thơ ca, truyện ngắn và tiểu luận của Phan Khôi trong giai đoạn từ năm 1956 đến năm 1959 – những tác phẩm hiện vẫn còn nằm rải rác dưới dạng tư liệu gia đình hoặc hồi ký của các con ông (Phan Thị Mỹ Khanh, Phan An Sa, Phan Nam Sinh) và chưa được xuất bản thành hệ thống.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục khảo sát, sưu tầm và xác minh văn bản học đối với các tác phẩm của Phan Khôi trong các chặng đường còn lại của cuộc đời cầm bút, đặc biệt là giai đoạn tham gia kháng chiến chống Pháp (1945–1954) và giai đoạn sinh hoạt văn nghệ tại Hà Nội (1954–1959).
- Mở rộng phạm vi so sánh loại hình giữa hiện tượng Phan Khôi ở Việt Nam với các trường hợp trí thức duy tân tiêu biểu trong khu vực Đông Á cùng thời kỳ (như Hồ Thích, Lỗ Tấn ở Trung Quốc, hay các học giả thời kỳ Minh Trị tại Nhật Bản) để làm sáng tỏ sâu sắc hơn quy luật thay đổi hệ hình văn hóa của các nước phương Đông trước làn sóng phương Tây hóa.
Giá trị tham khảo
Luận án của tác giả Hoàng Thị Hường là công trình chuyên khảo hữu ích cho các đối tượng và lĩnh vực nghiên cứu sau:
- Đối tượng thụ hưởng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Lịch sử báo chí, Ngôn ngữ học và Văn hóa học: Công trình cung cấp hệ thống tư liệu phong phú, các phân tích văn bản cụ thể và khung lý thuyết rõ ràng để phục vụ công tác giảng dạy, học tập về văn học Việt Nam giai đoạn 1900–1945.
- Các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng và văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX: Luận án mang lại góc nhìn đa chiều về mẫu hình trí thức Nho học duy tân trong cuộc chạm trán với văn hóa phương Tây.
- Các nhà quản lý và hoạch định chính sách văn hóa: Luận án cung cấp bài học kinh nghiệm trong việc nhìn nhận, ứng xử khách quan đối với các hiện tượng học thuật phức tạp trong lịch sử, từ đó phục vụ công tác bảo tồn và phát huy các di sản tinh thần của dân tộc.
- Các phần nội dung có giá trị tham khảo nổi bật:
- Bảng tổng lược lịch sử phục chế di sản văn bản và hệ thống tác phẩm báo chí 1928–1942 của Phan Khôi tại Chương 1.
- Khung lý thuyết phân tích về sự "thay đổi hệ hình" (paradigm shift) và phương pháp tích hợp tư cách phê bình văn chương trong hoạt động phản biện xã hội ở Chương 2.
- Các cứ liệu văn bản và diễn biến lịch sử xung quanh sự kiện ra đời bài thơ Tình già và tác phẩm Chương Dân thi thoại ở Chương 3.
- Kết quả khảo sát thi pháp thể loại văn xuôi tự sự (ngôn ngữ khẩu ngữ, yếu tố tả thực, trạng thái lưỡng lự giao thời) ở Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án không thiết kế một chương riêng biệt về hoạt động phê bình văn học của Phan Khôi?
Theo giải trình của tác giả luận án ở phần Mở đầu, trên thực tế lịch sử, Phan Khôi không phải là người chuyên tâm thuần túy về mặt sáng tác văn chương hay phê bình học thuật thuần túy. Ông luôn thực hiện các tranh luận, phê bình thông qua diễn đàn báo chí. Văn chương chỉ trở thành đối tượng lưu tâm của Phan Khôi khi nó hàm chứa hoặc liên quan mật thiết đến các vấn đề cải cách xã hội, đổi mới nhận thức và canh tân tư tưởng mà ông đang theo đuổi. Do đó, luận án quyết định đặt tư cách phê bình văn nghệ của Phan Khôi tích hợp bên trong tư cách nhà phản biện xã hội tại Chương 2, trong khi Chương 3 và Chương 4 dành riêng để khảo sát hai thể loại sáng tác cụ thể là thơ và văn xuôi tự sự.
2. Khái niệm "thay đổi hệ hình" (paradigm shift) của Thomas Kuhn được tác giả vận dụng nhằm mục đích gì?
Tác giả vận dụng khái niệm của Thomas Kuhn để lý giải bước chuyển từ văn hóa trung đại phương Đông sang cận – hiện đại phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Luận án xem đây là một cuộc chuyển dịch mang tính cách mạng làm thay đổi toàn bộ hệ hình tri thức của xã hội, bao gồm: thế giới quan, khung khổ nhận thức, hệ thuật ngữ biểu đạt, các tín niệm và chuẩn mực giá trị thẩm mỹ. Khung lý thuyết này giúp giải thích vì sao Phan Khôi – một người xuất thân Nho học sâu sắc – lại có những hành động quyết liệt trong việc phê phán các giá trị cổ truyền, cổ xúy tư duy logic phương Tây và tìm kiếm các hình thức ngôn ngữ nghệ thuật mới.
3. Công trình sưu tầm di sản báo chí của Phan Khôi do Lại Nguyên Ân thực hiện có quy mô ra sao?
Công trình của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân là bộ sách gồm 10 tập được xuất bản liên tục từ năm 2003 đến năm 2017 qua các nhà xuất bản Đà Nẵng, Hội Nhà văn và Tri thức. Bộ sách đã sưu tầm, khảo dị và chú thích hơn 1.000 bài báo có giá trị của Phan Khôi đăng trên các tờ báo ở Hà Nội, Huế và Sài Gòn trong giai đoạn từ năm 1928 đến năm 1942, với tổng dung lượng lên tới hơn 7.000 trang sách in. Đây là nguồn tư liệu cơ bản và đáng tin cậy nhất được luận án sử dụng để phân tích.
4. Giới nghiên cứu cùng thời và sau này có những quan điểm trái chiều nào về bài thơ "Tình già" của Phan Khôi?
Văn bản luận án chỉ ra hai luồng ý kiến đối lập:
- Luồng ý kiến phủ nhận hoặc hạ thấp: Minh Kha (1960) xem Tình già chỉ là một bài vè đọc để cười chơi, dùng toàn tiếng nôm và sai niêm luật; Phượng Hải (1960) cho rằng đó không phải là thơ mà là bài văn vần thiếu tính duyên dáng; Nguyễn Vỹ dẫn lại lời Phan Khôi từng nhận mình làm bài thơ này theo thể cổ phong Trung Hoa để phản bác quan điểm coi đây là Thơ mới.
- Luồng ý kiến khẳng định vị trí mở đường: Hoài Thanh – Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam (1942) ví Phan Khôi như "vị tướng quân" thừa nhận sự táo bạo cho giới thanh niên; các nhà nghiên cứu Vu Gia, Nguyễn Q. Thắng, Lê Minh Quốc, Nguyễn Hữu Sơn và Lại Nguyên Ân đều khẳng định Tình già là cú hích lịch sử giải phóng thơ ca tiếng Việt khỏi niêm luật cũ, chính thức mở đầu cho thời đại Thơ mới.
5. Luận án đã đánh giá đóng góp của truyện ngắn "Ông Năm Chuột" trên phương diện thi pháp như thế nào?
Dẫn theo bài nghiên cứu của Hoàng Thị Huế (2014), luận án chỉ ra truyện ngắn Ông Năm Chuột phản ánh tính chất cầu nối chuyển giao sâu sắc giữa văn học trung đại và hiện đại. Việc lấy tên nhân vật làm nhan đề tác phẩm là sự tiếp nối thể tài văn học trung đại, nhưng cách đặt tên mang màu sắc hài hước, nghịch dị đã thể hiện dấu ấn mới. Về mặt ngôn ngữ, truyện ngắn này thoát khỏi hệ thống ngôn từ ước lệ bác học bằng cách đưa ngôn ngữ đối thoại, độc thoại và khẩu ngữ đời sống hàng ngày vào trần thuật, mở ra khuynh hướng văn xuôi phản ánh hiện thực sinh động của xã hội hiện đại.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Hoàng Thị Hường là công trình nghiên cứu văn học sử định tính được triển khai công phu, kế thừa trực tiếp thành quả của công cuộc phục chế di sản văn bản Phan Khôi sau năm 1986. Bằng việc vận dụng lý thuyết thay đổi hệ hình tri thức và thi pháp học thể loại, luận án đã làm sáng tỏ hành trình dấn thân của Phan Khôi từ một nhà Nho duy tân trở thành nhà báo chuyên nghiệp, nhà phản biện xã hội và ngòi bút mở đường cho các hình thức văn học hiện đại. Kết quả nghiên cứu không chỉ minh định khách quan vị trí lịch sử của Phan Khôi trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, mà còn xác lập một cứ liệu học thuật tin cậy cho việc tiếp tục nghiên cứu lịch sử báo chí, văn hóa và tư tưởng dân tộc.