Đặt vấn đề Sự phân công lao động thể hiện vai trò, sự đóng góp và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong gia đình. Bên cạnh đó, phân công lao động cũng ảnh hưởng tới các mặt đời sống của gia đình. Trong bất kỳ gia đình nào thì cũng cần có sự phân công lao động, vì nó giúp cho cuộc sống gia đình diễn ra tốt đẹp hơn khi các thành viên cùng tham gia đóng góp, san sẻ các công việc gia đình với nhau, từ đó tạo ra sự liên kết gắn bó bền chặt giữa các thành viên. Trong xã hội truyền thống, các chuẩn mực xã hội và những lễ giáo phong kiến khiến cho người phụ nữ luôn bị ràng buộc trong gia đình, rơi vào địa vị phụ thuộc.
Quan niệm trọng nam khinh nữ và tư tưởng coi thường phụ nữ vẫn còn đang tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và là những nguyên nhân dẫn đến sự phụ thuộc trong cuộc sống gia đình của người phụ nữ (Nguyễn Thị Thoa, 2015). Có thể thấy rằng chính sự khác biệt biệt về vai trò giữa nam và nữ đã tạo nên sự khác biệt trong phân công lao động giữa nam và nữ trong gia đình. Nam giới chủ yếu đảm nhân các công việc liên quan đến phát triển kinh tế gia đình, những việc nặng nhọc hơn đòi hỏi phải có sức khỏe và sự nhanh nhẹn. Đó là những công việc liên quan đến sản xuất và hoạt động cộng đồng…Tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò quan trọng của nữ giới, họ tham gia tích cực vào công việc sản xuất, đồng thời người phụ nữ đóng vai trò rất quan trọng trong công việc tái sản xuất và cộng đồng (Nguyễn Thị Hoàng Anh, 2019).
Kinh tế trồng trọt của các tộc người thiểu số ở miền Bắc nước ta gồm hai loại hình chủ yếu: trồng trọt trên nương rẫy và gieo cấy trên đồng ruộng, hay nói cách khác là nương rẫy và ruộng nước. Đối với nương rẫy đó chính là nguồn sống chính của các tộc người cư trú ở vùng rẻo cao và rẻo giữa. Với loại hình ruộng nước gồm các tộc người sống ở vùng thấp, trong các cánh đồng, thung lũng miền 1 núi. Đối với cư dân nông nghiệp, để tồn tại và phát triển, họ đã có một bước tiến dài trong công cuộc đấu tranh với thiên nhiên để phát triển sản xuất, có những phát minh, cải tiến kỹ thuật về canh tác.
Chẳng hạn như việc phát minh các công cụ sản xuất như chiếc cày bằng sắt. Bên cạnh đó, cùng với sức kéo của trâu, bò trong sản xuất; kỹ thuật phối kết hợp trong sản xuất nhằm đảm bảo sự thu hoạch tối đa của sản phẩm cây trồng trên những mảnh ruộng, làm tăng giá trị sử dụng và giá trị kinh tế của đất đai; kéo theo sự thay đổi cả quyền sở hữu ruộng đất và cơ cấu xã hội, lẫn hình thức tổ chức và loại hình làng bản (Nguyễn Thị Dân, 2018). Tại sao trong các gia đình dân tộc thiểu số ở nông thôn miền núi, người phụ nữ dân tộc vẫn chịu ảnh hưởng của tính chất bảo thủ của phân công lao động truyền thống. Họ thường phải lao động với cường độ lớn, thời gian làm việc kéo dài khả năng ra quyết định của họ nhìn chung thấp hơn nhiều so với nam giới.
Việc phải sinh con và số lượng con cái trong gia đình cũng ảnh hưởng đến quá trình phân công lao động giữa vợ và chồng (Nguyễn Lệ Thu, 2017). Đồng bào Nùng lấy việc trồng lúa làm nguồn sống chính. Người Nùng rất thành thạo trong việc khai khẩn đất đai làm nương rẫy, làm ruộng bậc thang khai thác đất đồng bằng trồng lúa nước. Ngoài nguồn lương thực chính là gạo, người Nùng còn trồng các loại cây nông sản khác như ngô, khoai, hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm, trong đó có đặc biệt phải kể đến các loại cây có giá trị kinh tế cao như, hoa hồi, quế, mác ca, người Nùng cũng giỏi trong việc chăn nuôi, tạo ra những giống vật nuôi có giá trị cao.
Vì vậy thông qua việc nghiên cứu đề tài “phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc Nùng” (nghiên cứu trường hợp tại xã Quốc Khánh huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn) nhằm tìm hiểu sự phân công các công việc trong gia đình và quyền quyết định của hộ gia đình dân tộc Nùng như thế nào? Việc phân công lao động giữa vợ và chồng trong các hoạt động sản xuất, hoạt động tái sản xuất và hoạt động cộng đồng của hộ gia đình dân tộc Nùng ra sao? 2 1. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Tìm hiểu sự phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc Nùng tại xã Quốc Khánh huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn 1. Mục tiêu cụ thể Nghiên cứu về sự phân công lao động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp trong hộ gia đình dân tộc Nùng tại xã Quốc Khánh huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn.
Nghiên cứu về sự phân công lao động trong hoạt động tái sản xuất của hộ gia đình dân tộc Nùng tại xã Quốc Khánh huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn. Nghiên cứu về sự phân công lao đông trong hoạt động cộng đồng trong hoạt động cộng đồng trong hộ gia đình dân tộc Nùng tại xã Quốc Khánh huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Phân công lao động trong hộ gia đình dân tộc Nùng tại xã Quốc Khánh huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn.
Khách thể nghiên cứu Hộ gia đình dân tộc Nùng tại xã Quốc Khánh huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi thời gian: số liệu thứ cấp được thu thập từ 2005 đến nay. Số liệu sơ cấp được thực hiện trong các hộ gia đình dân tộc Nùng ở nông thôn năm 2021. Phạm vi không gian: xã Quốc Khánh huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn Phạm vi nội dung: Đề tài này tập chung tìm hiểu sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình có hai thế hệ (vợ chồng – con cái) dân tộc Nùng dưới quan điểm của người vợ dựa trên các khía cạnh như: sự phân công, quyền ra quyết định giữa vợ và chồng và sự tham gia giữa vợ và chồng trong các 3 hoạt động sản xuất lúa, hồi, gồm công đoạn làm đất, phát nương rẫy, trồng, chăm sóc, thu hoạch và tiêu thụ, chăn nuôi gồm chăm sóc vật nuôi, dọn dẹp chuồng trại hoạt động tái sản xuất gồm các công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, học tập của con cái và các hoạt động cộng đồng gồm các công việc như cưới hỏi, ma chay, lễ hội truyền thống của dân tộc, công việc của thôn xóm và công việc dòng họ.
Từ đó chỉ ra sự phân công lao động của hộ gia đình dân tộc Nùng. 4 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu 2. Lý thuyết vị thế - vai trò Lý thuyết này nhấn mạnh đến các bộ phận cấu thành của xã hội và cho rằng mỗi cá nhân có một vị trí xã hội nhất định được thừa nhận trong cơ cấu xã hội và gắn liền với những quyền lợi, nghĩa vụ mà một người phải đối mặt và thực hiện đầy đủ.
Theo Talcott Parsons, sự tham gia của mỗi một nhân vật trong hệ thống xã hội trên hai phương diện. Một là phương diện vị trí, tức là mặt tĩnh tại, đó là nơi mà một nhân vật “ định vị” ví trí của mình trong mối liên hệ với các nhân vật khác trong hệ thống xã hội. Parsons gọi đó là "vị thế xã hội”. Hai là phương diện quá trình tức là nhân vật khác trong bối cảnh có ý nghĩa chức năng với hệ thống xã hội.
Parsons gọi đó là “vai trò” xã hội (Lê Ngọc Hùng,2008) Như trong xã hội Việt Nam, vị thế và vai trò của người chồng là trụ cột, có quyền lực nhất trong gia đình thực hiên nhiều vai trò như: vừa là chồng vừa là cha, theo đó người vợ cũng có những vai trò vị thế riêng: vừa là người có nhiệm vụ chăm sóc gia đình, đảm nhiệm công việc nội trợ. Tương ứng với từng vị thế sẽ có một mô hình hành vi xã hội được mong đợi. Mô hình này chính là vai trò tương ứng của vị thế xã hội (Lê Thị Qúy,2010). Trong hoạt động sản xuất của các gia đình, mỗi thành viên đều có vai trò và vị thế khác nhau.
Trong đó vợ và chồng là người đưa ra các quyết định quan trọng, gắn kết gia đình và các mối quan hệ ở ngoài xã hội (Lê Thị Qúy,2011) Vai trò giới được quyết định bởi yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội. Nữ giới và nam giới thường có 3 vai trò giới như sau: Vai trò sản xuất là hoạt động làm ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ để tiêu dùng và trao đổi thương mại. Đây là hoạt động tạo ra thu nhập, được trả công. Cả phụ nữ và nam giới đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất tạo thu nhập, tuy nhiên do bị ảnh hưởng bởi những quan niệm và định kiến xã hội mà mức độ 5 tham gia vào công việc của họ có sự khác nhau và thành quả công việc cũng nhìn nhận một cách khác nhau.
Đây là vai trò xã hội được coi trọng và đánh giá cao. Vai trò tái sản xuất là các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ,. giúp tái sản xuất dân số và sức lao động bao gồm sinh sản, các công việc gia đình, nuôi dạy và chăm sóc con cái, chăm sóc gia đình và các hoạt động nội trợ khác. Là những hoạt động thiết yếu đối với cuộc sống của con người đảm bảo sự phát triển bền vững của dân số và lực lượng lao động, tiêu tốn nhiều thời gian nhưng không tạo ra thu nhập vì vậy mà ít được coi là “công việc thực sự”.
Đặc trưng của những công việc này là thực hiện miễn phí không được các nhà kinh tế đưa vào các thống kê tính toán và hầu hết phụ nữ và trẻ em gái đóng vai trò và trách nhiệm chính trong các công việc tái sản xuất này. Vai trò này không được xã hội coi trọng và đánh giá cao. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, sử dụng lý thuyết này, phụ nữ và nam giới trong quá trình phát triển của gia đình đều có vị trí khác nhau và vai trò tương ứng. Nếu đánh giá đúng khả năng và tạo điều kiện phù hợp để họ phát huy đúng khả năng với đúng vai trò thì kết quả công việc sẽ cao.