Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hôn nhân là một trong những chủ đề nền tảng của nhân học, phản ánh các chuẩn mực xã hội, tập tục, nghi lễ và sắc thái văn hóa tộc người, đồng thời xác lập tính hợp pháp của quan hệ giới tính. Tại Việt Nam, nghiên cứu về hôn nhân các tộc người đã được triển khai ở nhiều vùng miền, nhưng các công trình chuyên sâu tại vùng biên giới Việt - Nam và Trung Quốc còn hạn chế. Vùng biên giới là không gian đặc thù, chịu tác động từ các dòng chảy hàng hóa, tư tưởng, con người và quá trình tương tác qua lại giữa hai quốc gia.
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, các khu vực biên giới chuyển biến nhanh chóng về kinh tế và xã hội, kéo theo sự gia tăng của hiện tượng hôn nhân hỗn hợp tộc người và hôn nhân xuyên biên giới. Huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc và có cửa khẩu quốc tế Tà Lùng, nơi người Tày cư trú lâu đời đan xen với người Nùng, người Kinh và có quan hệ gần gũi với người Choang ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Nghiên cứu hôn nhân của người Tày tại đây giúp nhận diện bản sắc văn hóa tộc người, khả năng thích ứng xã hội, cũng như các vấn đề đặt ra đối với an ninh và trật tự xã hội vùng biên.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích đặc điểm truyền thống và sự biến đổi trong hôn nhân của người Tày tại vùng biên giới huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng; làm rõ các chiều kích phát triển tộc người, quan hệ tộc người vùng biên và thực trạng hôn nhân xuyên biên giới; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn giá trị văn hóa và phục vụ phát triển bền vững an ninh xã hội.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Xây dựng và làm rõ cơ sở lý luận, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu hôn nhân người Tày ở vùng biên giới.
- Nghiên cứu, trình bày quan niệm, nguyên tắc, hình thức hôn nhân, các bước nghi lễ hôn nhân, tập quán cư trú sau hôn nhân và thực trạng hôn nhân xuyên biên giới nhằm chỉ rõ đặc điểm hôn nhân của người Tày ở vùng biên.
- Phân tích các biến đổi trong hôn nhân, xác định các yếu tố tác động, làm rõ các vấn đề và xu hướng biến đổi, đồng thời đề xuất giải pháp bảo lưu, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống đương đại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hôn nhân của người Tày ở vùng biên giới huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng, tập trung vào đặc điểm truyền thống, sự biến đổi và hiện tượng kết hôn xuyên biên giới Việt - Trung.
- Phạm vi nội dung: Quan niệm, tập quán, hình thức, nghi lễ cưới hỏi, sự thay đổi phong tục và thực trạng hôn nhân qua biên giới.
- Phạm vi không gian: 04 xã (Triệu Ẩu, Cách Linh, Đại Sơn, Mỹ Hưng) và 02 thị trấn (Hòa Thuận, Tà Lùng) thuộc huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng.
- Phạm vi thời gian: Trọng tâm từ năm 1991 (thời điểm Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao, mở lại các hoạt động giao thương biên mậu) đến năm 2019 (thời điểm hoàn thành các đợt điền dã thực địa).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tổng quan nghiên cứu trong luận án được phân loại theo ba nhóm vấn đề chính:
1. Nhóm nghiên cứu về người Tày và hôn nhân của người Tày
2. Nhóm nghiên cứu về vùng biên và quan hệ kinh tế - xã hội vùng biên
3. Nhóm nghiên cứu về hôn nhân xuyên biên giới Việt - Trung
-
Nghiên cứu về người Tày và hôn nhân tộc người Tày:
- Học giả nước ngoài: Đầu thế kỷ XX, các công trình của A. Bonifacy (1904, 1905, 1907, 1915) khảo cứu về tang ma, truyện cổ tích và lễ tết của người Thổ (người Tày); A. Biddet nghiên cứu so sánh nhân chủng và ngôn ngữ giữa người Thổ ở Cao Bằng, Lạng Sơn với người Choang (Quảng Tây) và các tộc người khác. Năm 2015, luận văn thạc sĩ của Cai Li Chao (Thái Lập Siêu) và Qin Yu Qiao (Đàm Vũ Tiếu) tại Học viện Khoa học xã hội Việt Nam đã so sánh tín ngưỡng, tục cưới hỏi giữa người Tày ở biên giới Cao Bằng và người Choang ở nam Quảng Tây.
- Học giả trong nước: Thư tịch cổ thời Lê - Nguyễn như Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi chép khái lược về đời sống người Tày. Sau năm 1975, các công trình tiêu biểu gồm: Hà Văn Thư và Lã Văn Lô (1982) với Văn hóa Tày Nùng; Viện Dân tộc học (1992) với Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam; Đỗ Thúy Bình (1994) khảo sát hôn nhân và gia đình người Tày, Nùng, Thái qua số liệu điều tra xã hội học; Hoàng Quyết và Tiến Dũng (1994), Triều Ân và Hoàng Quyết (1995) công bố các khảo cứu về phong tục cưới xin và thơ đối đáp của quan làng, pả mẻ; Nguyễn Thanh Nga (1997) ghi chép phong tục cưới tại Cao Bằng; Hoàng Tuấn Nam và Bế Thanh Tuyền (2001) xuất bản Việc dựng vợ gả chồng của người Tày ở Cao Bằng; La Công Ý (2010) với Đến với người Tày và văn hóa Tày; Hoàng Thị Cành (2013) nghiên cứu tục hôn nhân cổ tại Nguyên Bình; Nguyễn Ngọc Thanh và cộng sự (2016) khảo cứu người Tày ở Tuyên Quang; cùng các luận án tiến sĩ của Bế Văn Hậu (2012), Vũ Thị Phương Nga (2017) và luận văn thạc sĩ của Hoàng Đức Trung (2018).
-
Nghiên cứu về vùng biên giới và quan hệ kinh tế - xã hội vùng biên:
- Học giả quốc tế: Chu Kiện và Lưu Đông Nhiệm (2005) phân tích chính sách dân tộc của Việt Nam tác động đến khu vực biên giới Trung Quốc; Zhung Juan (2010) nghiên cứu thương mại thường nhật vùng biên giới Việt - Trung; Phùng Nhuận (2013) thuộc Đại học Dân tộc Trung ương Trung Quốc phân loại các hình thức tương tác văn hóa vùng biên giới Việt - Trung tại Vân Nam thành tương tác cá nhân, nhóm xã hội và chính phủ.
- Học giả trong nước: Hoàng Xuân Long (1997), Nguyễn Minh Hằng (2001), Trần Văn Thọ (2014) khảo sát hoạt động trao đổi thương mại và kinh tế vùng biên; Nguyễn Văn Căn (2008) phân tích chính sách "Hưng biên phú dân" của Trung Quốc; Đặng Thanh Phương và cộng sự (2009), Vương Xuân Tình và cộng sự (2011), Trần Thị Mai Lan và cộng sự (2011), Lý Hành Sơn và cộng sự (2012, 2017), Bùi Xuân Đính và Nguyễn Ngọc Thanh khảo cứu toàn diện về kinh tế - xã hội, tôn giáo và quan hệ dân tộc xuyên quốc gia tại các tỉnh biên giới phía Bắc.
-
Nghiên cứu về hôn nhân xuyên biên giới:
- Học giả quốc tế: Carolin Grillot (2010) khảo sát hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam và nam giới Trung Quốc tại các cặp cửa khẩu Lào Cai - Hà Khẩu và Móng Cái - Đông Hưng; Lianling Su (2009) khảo sát 64 cặp vợ chồng Việt - Trung tại vùng biên giới Trung Quốc.
- Học giả trong nước: Lê Thị Hường (2011, 2014) nghiên cứu hôn nhân qua biên giới ở người Nùng Cháo (Lạng Sơn) và người Nùng, Thái, Hmông (Cao Bằng, Điện Biên); Đặng Thị Hoa (Chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước KX02.21/11-15) cùng các cộng sự Lê Ngọc Lân, Trần Thị Hồng, Trần Quý Long công bố công trình Hôn nhân xuyên biên giới với phát triển xã hội (2016) tổng kết thực trạng tại 6 tỉnh biên giới.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây về hôn nhân người Tày chủ yếu tập trung mô tả phong tục truyền thống tại các vùng nội địa, xa đường biên giới. Các nghiên cứu về vùng biên hoặc hôn nhân xuyên biên giới lại tiếp cận trên diện rộng ở cấp vùng hoặc liên tỉnh. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: nghiên cứu vi mô, chuyên sâu về hôn nhân người Tày tại một địa bàn biên giới hành chính cụ thể (huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng), đặt hôn nhân trong mối liên hệ trực tiếp với kinh tế cửa khẩu, sự giao lưu qua lại đường biên và quan hệ tộc người liên biên giới Việt - Trung từ sau năm 1991.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và hệ thống khái niệm
Luận án vận dụng ba lý thuyết chuyên ngành của nhân học và dân tộc học:
- Lý thuyết lựa chọn duy lý (Rational Choice Theory): Tiếp cận hành vi kết hôn như sự lựa chọn có chủ đích của các cá nhân nhằm tối đa hóa lợi ích trong bối cảnh kinh tế - xã hội nhất định. Vận dụng quan điểm của Marcel Mauss (1925) về tính tương hỗ trong trao đổi và Claude Lévi-Strauss về nguyên lý trao đổi hôn nhân nhằm thiết lập mạng lưới xã hội và giải quyết các nhu cầu kinh tế.
- Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa (Acculturation Theory): Phân tích sự biến đổi về nhận thức, thái độ ứng xử, chuẩn mực nghi lễ của cá nhân và cộng đồng người Tày khi tiếp xúc liên tục với các dòng chảy văn hóa mới và cư dân bên kia biên giới; qua đó làm rõ quá trình thích ứng, tích lũy và bảo lưu các giá trị truyền thống.
- Lý thuyết vùng văn hóa (Cultural Area Theory): Kế thừa quan điểm của Clark Wissler, trường phái Dân tộc học Xô Viết (S. Dôlôrarep, S. Tolstov) về "Loại hình kinh tế - văn hóa" và "Vùng văn hóa - lịch sử", cùng phân loại vùng văn hóa của GS. Ngô Đức Thịnh. Huyện biên giới Phục Hòa được nhìn nhận như một tiểu vùng văn hóa với các nét đặc thù về sinh kế biên mậu, địa bàn cư trú và quan hệ thân tộc xuyên biên giới.
Hệ thống khái niệm công cụ được xác định rõ: Hôn nhân, Nội hôn tộc người, Hôn nhân một vợ một chồng, Hôn nhân hỗn hợp (mixed marriage), Hôn nhân có yếu tố nước ngoài (theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014), Hôn nhân xuyên quốc gia (cross-national marriage/transnational marriage), Hôn nhân xuyên biên giới (cross-border marriage - tiếp cận theo Lucy Williams 2010 và Đặng Thị Hoa 2016), Biên giới quốc gia, Khu vực biên giới, Vùng biên giới.
Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án thực hiện theo định hướng nghiên cứu định tính của ngành Dân tộc học/Nhân học, dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp đường lối, chính sách dân tộc và pháp luật của Nhà nước Việt Nam.
Các phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu gồm:
- Phương pháp điền dã dân tộc học (triển khai từ năm 2012 đến tháng 4/2019):
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn khoảng 30 cán bộ quản lý cấp huyện và cấp xã/thị trấn (phụ trách các lĩnh vực kinh tế, dân tộc, văn hóa, thống kê, tư pháp, công an); phỏng vấn trên 100 người dân thuộc nhiều nhóm lứa tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, cùng các đối tượng am hiểu phong tục như ông quan lang, bà pả mẻ (người làm mai mối). Thời gian mỗi cuộc phỏng vấn từ 20 phút đến 2 giờ (một số trường hợp kéo dài 4-5 giờ).
- Quan sát tham dự: Trực tiếp tham gia, ghi chép, ghi âm, chụp ảnh và quay phim tại 03 đám cưới hoàn chỉnh cùng một số lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi của người Tày; quan sát đời sống lao động nông nghiệp, sinh hoạt thường nhật và hoạt động vận chuyển, làm thuê qua biên giới.
- Thảo luận nhóm: Tiến hành khoảng 40 cuộc thảo luận nhóm (mỗi nhóm từ 2 đến 5 người, kéo dài 30 phút đến 1 giờ) về các chủ đề quan niệm chọn bạn đời, quy trình nghi lễ và điều kiện kinh tế gia đình.
- Phương pháp chuyên gia: Thực hiện trên 30 buổi trao đổi chuyên môn với các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành về hôn nhân, gia đình và văn hóa tộc người Tày.
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp tài liệu: Xử lý nguồn tư liệu điền dã, so sánh dữ liệu giữa các xã nội địa và biên giới, kết hợp đối chiếu với tài liệu thư tịch và các công trình đã công bố.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu sơ cấp từ các đợt khảo sát thực địa tại 4 xã và 2 thị trấn biên giới huyện Phục Hòa.
- Dữ liệu thứ cấp từ đề tài cấp Nhà nước KX01-HNXBG khảo sát tại Cao Bằng với mẫu: 100 người Tày và 100 người Nùng.
- Các báo cáo hành chính, thống kê kinh tế - xã hội của huyện Phục Hòa và tỉnh Cao Bằng.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án gồm phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục và 04 chương nội dung:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và khái quát về người Tày ở vùng biên giới huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu, khung lý thuyết, đồng thời khái quát bối cảnh tự nhiên, lịch sử, kinh tế và văn hóa - xã hội của địa bàn nghiên cứu:
- Lịch sử hành chính và tự nhiên: Huyện Phục Hòa có lịch sử gắn với thành Phục Hòa (xây dựng khoảng năm 864). Qua các lần điều chỉnh địa giới (sáp nhập thành huyện Quảng Hòa năm 1967, tái lập huyện Phục Hòa năm 2001 theo Nghị định 96/2001/NĐ-CP, thành lập thị trấn Hòa Thuận năm 2007 theo Nghị định 183/2007/NĐ-CP), huyện có diện tích 251,1284 km2, gồm 7 xã và 2 thị trấn, trong đó có 21 km đường biên giới tiếp giáp huyện Long Châu, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Địa hình có sông Bằng Giang, sông Bắc Vọng và sông Vi Vọng chảy qua.
- Đặc điểm 6 điểm nghiên cứu vùng biên:
- Thị trấn Tà Lùng: Đô thị cửa khẩu quốc tế, trên 30% hộ làm dịch vụ, trên 60% trồng mía, tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 là 2% (so với bình quân toàn huyện 13,9%).
- Thị trấn Hòa Thuận: Trung tâm hành chính huyện, 504 cơ sở hoạt động thương mại - dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp (chiếm 46,3% cơ cấu kinh tế), sản xuất nông nghiệp chiếm 53,7%.
- Xã Triệu Ẩu: Xã vùng cao đặc biệt khó khăn, cách trung tâm huyện 22 km, tỷ lệ hộ nghèo năm 2018 là 27,97%.
- Xã Cách Linh: Lao động nông nghiệp chiếm trên 90%, tỷ lệ hộ nghèo trên 30%, cận nghèo trên 44%, đạt 10/19 tiêu chí nông thôn mới năm 2017.
- Xã Đại Sơn: Điểm trung chuyển hàng hóa qua sông Bắc Vọng, đạt 14/19 tiêu chí nông thôn mới năm 2017.
- Xã Mỹ Hưng: Có bản Nà Thắm tiếp giáp đường biên trên bộ, người dân canh tác mía bán cho nhà máy đường và thương lái Trung Quốc, đạt 10/19 tiêu chí nông thôn mới năm 2017.
Bảng tổng hợp đặc điểm dân cư tại các đơn vị hành chính khảo sát (theo tư liệu chương 1):
| Đơn vị hành chính |
Đặc điểm vị trí |
Cơ cấu kinh tế chính |
Tỷ lệ/Quy mô người Tày |
| Thị trấn Tà Lùng |
Cửa khẩu quốc tế giáp Trung Quốc |
Dịch vụ (>30%), Trồng mía (>60%) |
Cư trú tập trung tại Pò Tập, Đỏng Lèng, Bó Pu |
| Thị trấn Hòa Thuận |
Trung tâm huyện lỵ |
Thương mại - Dịch vụ (46,3%), Nông nghiệp (53,7%) |
1.178 người (tập trung tại Bó Khoan, Phố Phục Hòa 1, 2) |
| Xã Triệu Ẩu |
Giáp Hạ Lang và Trung Quốc |
Nông nghiệp (mía, sắn, lúa), làm thuê qua biên giới |
Đông nhất huyện (>1.100 người, bản Co, Sàng, Buống...) |
| Xã Cách Linh |
Giáp Trung Quốc qua sông Bắc Vọng |
Nông nghiệp (>90%), bốc vác, làm thuê |
Tập trung tại Riềng Dưới, Bản Mển, Bó An |
| Xã Đại Sơn |
Giáp Trung Quốc qua sông Bắc Vọng |
Trồng mía, bốc vác hàng qua sông |
Tập trung tại Bản Mày, Cốc Lùng |
| Xã Mỹ Hưng |
Giáp Thạch An và Trung Quốc |
Nông nghiệp trồng mía, giao thương qua lối Nà Thắm |
Tập trung tại Nà Thắm, Nà Cháo, Nà Riềng |
- Dân số và tộc người: Vùng biên giới huyện Phục Hòa có gần 20.000 người, trong đó người Nùng chiếm khoảng 70% (>13.000 người), người Tày chiếm khoảng 25% (4.554 người), còn lại là người Kinh và người Hoa.
- Đời sống kinh tế và việc làm: Chuyển đổi từ độc canh lúa nước sang trồng mía từ cuối thập niên 1990 cung cấp cho nhà máy đường tại huyện hoặc xuất khẩu tiểu ngạch (năng suất bình quân 1 tấn mía/sào, giá khoảng 800.000 đồng/tấn). Chăn nuôi gia súc gia cầm chuyển từ gầm sàn ra chuồng trại riêng (gà sống bán sang Trung Quốc với giá khoảng 140.000 đồng/kg). Hoạt động đi làm thuê qua biên giới phổ biến ở nhóm tuổi trên 30 (nam làm phụ hồ, thợ xây; nữ chặt mía, trồng mía, bán hàng; thu nhập bình quân khoảng 300.000 đồng/ngày). Thanh niên có xu hướng làm việc tại các khu công nghiệp ở Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dương.
- Văn hóa vật chất và tinh thần: Nhà ở chuyển dần từ nhà sàn truyền thống (khoảng 100 m2, 3 gian 2 chái) sang nhà xây cấp 4 và nhà tầng. Trang phục truyền thống (áo 4 thân cài cúc phải của nam, áo 5 thân chiết eo của nữ) chủ yếu do người cao tuổi sử dụng hoặc mặc trong lễ hội. Tín ngưỡng vạn vật hữu linh, coi trọng ma nhà (phi hươn), thần bản (phi bản), thần núi (phi sấn), thần suối (phi khuổi). Các lễ hội định kỳ mùa xuân: Lồng Tồng xã Triệu Ẩu (mùng 8 tháng Giêng), Lễ hội pháo hoa Hòa Thuận (18/3 âm lịch), Hội Háng Riềng tại Cách Linh (19-20/3 âm lịch), Lồng Tồng Bản Chu xã Đại Sơn (15/3 âm lịch), Hội Làng Hai tại Mỹ Hưng (27/3 âm lịch).
Chương 2: Đặc điểm hôn nhân của người Tày truyền thống và biến đổi
Chương này đi sâu phân tích hôn nhân truyền thống của người Tày và các chiều hướng thay đổi:
- Quan niệm và nguyên tắc hôn nhân: Người Tày coi trọng việc lập gia đình ("trai lớn lấy vợ, gái lớn lấy chồng") để duy trì dòng giống, tạo thêm lao động và thực hiện việc thờ phụng tổ tiên. Gia đình theo phụ quyền, đề cao vai trò quyết định của người cha, người chồng.
- Quy trình nghi lễ: Các bước tiến hành cưới xin truyền thống gồm lễ dạm hỏi, lễ so tuổi/so mệnh, lễ ăn hỏi, lễ cưới chính thức và lễ lại mặt. Vai trò của ông quan lang và bà pả mẻ là đại diện hai họ trong đối đáp nghi lễ qua các bài thơ quan làng.
- Biến đổi trong hôn nhân đương đại: Độ tuổi kết hôn nâng cao phù hợp luật pháp; nghi lễ được tinh giản các bước rườm rà và giảm bớt gánh nặng thách cưới; quyền tự do tìm hiểu của nam nữ thay thế cho sự sắp đặt hoàn toàn của cha mẹ; việc đăng ký kết hôn tại chính quyền xã/thị trấn dần được thực hiện theo quy định pháp luật.
Chương 3: Hôn nhân xuyên biên giới
Nội dung chương tập trung làm rõ hiện tượng kết hôn giữa cư dân vùng biên giới Phục Hòa với người dân bên kia biên giới Trung Quốc:
- Động cơ và phương thức kết hôn: Sự tương đồng về ngôn ngữ, văn hóa giữa người Tày, Nùng (Việt Nam) và người Choang (Trung Quốc), kết hợp mối quan hệ thân tộc lâu đời tạo điều kiện cho các cuộc hôn nhân xuyên biên giới. Động cơ kết hôn có sự đan xen giữa nhu cầu cải thiện kinh tế gia đình và tình trạng chênh lệch giới tính (thừa nam, thiếu nữ) tại các vùng nông thôn Trung Quốc.
- Thực trạng pháp lý và xã hội: Phần lớn các cuộc hôn nhân xuyên biên giới diễn ra không đăng ký kết hôn chính thức tại cơ quan tư pháp có thẩm quyền, tạo ra các vướng mắc về hộ tịch, quốc tịch, quyền nuôi con và việc tiếp cận an sinh xã hội, giáo dục, y tế cho thế hệ con cái khi trở về sinh sống tại Việt Nam.
Chương 4: Những yếu tố tác động đến biến đổi, giá trị hôn nhân và một số vấn đề đặt ra
Chương 4 tổng hợp các yếu tố thúc đẩy sự biến đổi và đề xuất kiến nghị:
- Các yếu tố tác động: Sự phát triển của kinh tế cửa khẩu, giao thương biên mậu; tác động của hệ thống pháp luật (Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới); sự phát triển của hệ thống thông tin liên lạc và biến động thị trường lao động.
- Vấn đề đặt ra: Nguy cơ mai một các nghi thức diễn xướng truyền thống (thơ quan lang, pả mẻ); tình trạng phụ nữ kết hôn không hợp pháp qua biên giới; sự bất bình đẳng trong phân công lao động gia đình; yêu cầu ổn định an ninh trật tự xã hội khu vực biên giới quốc gia.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận
- Là công trình chuyên khảo đầu tiên trong ngành Nhân học tiếp cận toàn diện về hôn nhân của người Tày tại địa bàn biên giới huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn từ sau năm 1991 đến 2019.
- Vận dụng kết hợp Lý thuyết lựa chọn duy lý, Lý thuyết giao lưu - tiếp biến văn hóa và Lý thuyết vùng văn hóa để giải thích các hiện tượng hôn nhân hỗn hợp tộc người và hôn nhân xuyên biên giới tại vùng đệm giáp ranh hai quốc gia.
- Cung cấp nguồn tư liệu dân tộc học thực địa về các bước nghi lễ, vai trò của ông mối bà mối (quan lang, pả mẻ) và phong tục hôn nhân của người Tày ở khu vực cửa khẩu quốc tế.
Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách
- Cung cấp dữ liệu thực tế về thực trạng hôn nhân không đăng ký qua biên giới, hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương (ngành tư pháp, công an, dân tộc) trong việc hoàn thiện công tác quản lý cư trú, hộ tịch và an ninh trật tự.
- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn các giá trị diễn xướng dân gian trong nghi lễ cưới hỏi truyền thống của người Tày gắn với phát triển văn hóa cộng đồng.
- Kiến nghị các định hướng chính sách hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững tại chỗ (trồng mía, chăn nuôi, chế biến) nhằm giảm bớt tình trạng lao động và di cư hôn nhân bất hợp pháp qua biên giới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Rào cản tiếp cận tư liệu quốc tế: Tác giả chưa tiếp cận được nhiều nguồn tài liệu thứ cấp chuyên sâu bằng tiếng Trung của các học giả Trung Quốc nghiên cứu về tộc người Choang và vùng biên giới Quảng Tây.
- Phạm vi địa bàn: Nghiên cứu mới giới hạn tại 6 xã/thị trấn biên giới thuộc huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng, chưa mở rộng khảo sát so sánh với các huyện biên giới khác cùng tỉnh (như Hạ Lang, Trùng Khánh, Hà Quảng) hoặc các tỉnh biên giới lân cận (Lạng Sơn, Lào Cai).
- Điều kiện điền dã: Do kinh phí thực hiện tự túc và khoảng cách địa lý, việc tham dự đầy đủ tất cả các bước nghi lễ từ dạm ngõ đến lại mặt của cùng một cặp đôi trải dài qua nhiều tháng còn gặp trở ngại.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh giữa người Tày ở vùng biên giới phía Bắc với người Choang ở khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc).
- Nghiên cứu định lượng diện rộng về tình trạng pháp lý và an sinh xã hội của con em các gia đình hôn nhân xuyên biên giới tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho các ngành Nhân học, Dân tộc học, Văn hóa học, Xã hội học và Việt Nam học trong nghiên cứu về thiết chế hôn nhân - gia đình tộc người và quan hệ dân tộc xuyên quốc gia.
- Đối với cán bộ quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Ban Dân tộc, Sở Tư pháp, Công an và chính quyền địa phương cấp huyện, xã tại các tỉnh biên giới Việt - Trung trong việc xây dựng cơ chế quản lý hộ tịch, an ninh biên phòng và triển khai các chương trình bảo tồn văn hóa truyền thống.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định mốc thời gian nghiên cứu từ năm nào và vì sao?
Luận án chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 1991. Đây là thời điểm Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao sau chiến tranh biên giới (1979-1989), tạo điều kiện cho việc khôi phục giao thương, đi lại qua biên giới và thúc đẩy sự chuyển biến sâu sắc trong kinh tế - xã hội, trong đó có sự gia tăng của hôn nhân xuyên biên giới.
2. Địa bàn khảo sát thực địa của luận án gồm những đơn vị hành chính nào?
Nghiên cứu được thực hiện tại 06 đơn vị hành chính thuộc khu vực biên giới của huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng, bao gồm 02 thị trấn (Hòa Thuận, Tà Lùng) và 04 xã (Triệu Ẩu, Cách Linh, Đại Sơn, Mỹ Hưng).
3. Số lượng mẫu phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm trong quá trình điền dã là bao nhiêu?
NCS đã thực hiện phỏng vấn sâu khoảng 30 cán bộ quản lý cấp huyện và xã, trên 100 người dân tại các thôn/xóm/bản (bao gồm ông quan lang, bà pả mẻ); tổ chức khoảng 40 cuộc thảo luận nhóm (quy mô 2-5 người/cuộc); đồng thời tiến hành trên 30 buổi làm việc với các chuyên gia.
4. Dữ liệu thứ cấp từ đề tài cấp Nhà nước nào được tác giả sử dụng?
Tác giả phân tích dữ liệu khảo sát tại tỉnh Cao Bằng từ đề tài cấp Nhà nước mã số KX01-HNXBG, với mẫu khảo sát gồm 100 người Tày và 100 người Nùng.
5. Hoạt động kinh tế chính của người Tày tại vùng biên giới huyện Phục Hòa có sự chuyển dịch như thế nào?
Người Tày tại đây đã chuyển dịch từ canh tác lúa nước truyền thống sang trồng mía cung cấp cho nhà máy đường và thương lái Trung Quốc (năng suất khoảng 1 tấn/sào); kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm bán qua đường tiểu ngạch; làm dịch vụ cửa khẩu; tham gia bốc vác hàng hóa và sang Trung Quốc làm thuê nhật trình (thợ xây, phụ hồ, chặt mía) với thu nhập khoảng 300.000 đồng/ngày.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Nhân học về chủ đề hôn nhân của người Tày ở vùng biên giới huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng là công trình nghiên cứu hệ thống về sự biến đổi của thiết chế hôn nhân dưới tác động của bối cảnh kinh tế cửa khẩu và giao lưu xuyên biên giới Việt - Trung. Thông qua phương pháp điền dã dân tộc học thực địa, tác giả đã làm rõ các giá trị văn hóa truyền thống được bảo lưu, những biến đổi trong nghi lễ và thực trạng phức tạp của hôn nhân xuyên biên giới. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tư liệu khoa học xác thực cho chuyên ngành Nhân học và cung cấp căn cứ thực tiễn phục vụ công tác quản lý xã hội, an ninh biên giới tại địa phương.