CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Người Tày có dân số đông nhất trong 53 tộc người thiểu số ở Việt Nam, có lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời nên thu hút được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu. Nghiên cứu về người Tày 1. Nghiên cứu của các học giả ngoài nước về người Tày Vào những năm đầu của thế kỉ 20, một số học giả người Pháp đã quan tâm và nghiên cứu về người Tày.
Trước hết kể đến các công trình của học giả nổi tiếng A. Bonifacy, như: Những nghi lễ trong tang ma của người Thổ (1904) [8], Sưu tập truyện cổ tích Thổ trên hai bờ sông Lô (1905) [9], Khởi nghĩa của người Tày năm 1983: ghi chép tác chiến quân đội vì sự đàn áp (1907) [10], Tết Hồ Bồ của người Tày (1915) [11], Lòng kiên nhẫn vô biên: truyện cổ tích Thổ (1915) [12]. Qua các bài viết, ông đưa ra một số nhận định có giá trị tham khảo như tang lễ của người Thổ không khác gì với tang lễ của người Việt vì người Thổ và người Việt đều tiếp thu nền văn minh Trung Quốc; tết Hồ Bồ của người Tày gắn với nghi lễ nông nghiệp, không có kiêng kỵ, cũng như cầu khấn Phật. Bên cạnh đó, còn có công trình của A.Biddet bàn về sự giống nhau giữa người Thổ ở Lạng Sơn, Cao Bằng với người Choang ở Quảng Tây (Trung Quốc) và người Kinh, người Nùng, người Thái, người Mường (Việt Nam) trên các phương diện: tộc tính, ngôn ngữ… 11 Trong nhiều năm trở lại đây, nghiên cứu của các học giả ngoài nước về người Tày có lẽ ngày càng phong phú nhưng dù cố gắng NCS chưa tiếp cận được do thiếu thông tin tìm nguồn tư liệu và rào cản về ngôn ngữ, đặc biệt là nghiên cứu của các học giả Trung Quốc được viết bằng tiếng Trung.
Vào năm 2015, tại Học viện Khoa học xã hội Việt Nam có 02 luận văn thạc sĩ ngành Việt Nam học bảo vệ thành công của các học viên người Trung Quốc tên là Cai Li Chao (Thái Lập Siêu) [17] và Qin Yu Qiao (Đàm Vũ Tiếu) [94] nghiên cứu về tín ngưỡng và tục cưới hỏi của người Tày ở khu vực biên giới tỉnh Cao Bằng so sánh với người Choang ở khu vực biên giới phía Nam Quảng Tây (Trung Quốc). Các nghiên cứu đã chỉ ra nhiều điểm tương đồng trong tín ngưỡng và tục cưới xin của người Tày và người Choang, góp phần khẳng định mối liên hệ xuyên suốt lịch sử của hai tộc người này, cũng như cơ sở xem xét các nhân tố tạo dựng các cuộc hôn nhân xuyên biên giới. Nhìn chung, mặc dù NCS chưa tiếp cận được nhiều các nghiên của các học giả ngoài nước về người Tày, đặc biệt ở hôn nhân nhưng những gì đã có cơ bản giúp NCS có được thêm những góc nhìn, đánh giá quan trọng hoàn thiện nội dung luận án. Nghiên cứu của học giả trong nước về người Tày và hôn nhân người Tày Có thể khẳng định người Tày là một trong số ít tộc người được nhiều học giả trong nước quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh lịch sử, văn hóa, xã hội khác nhau, phần nào phù hợp với vai trò, vị thế và đóng góp của họ trong lịch sử hình thành, phát triển, đấu tranh và xây dựng đất nước.
Ở phần viết này, NCS điểm nhấn một số nghiên cứu về người Tày, đặc biệt hơn với nghiên cứu về hôn nhân. Từ triều đại nhà Lê, nhà Nguyễn, người Tày đã được đề cập trong các cuốn sách nổi tiếng như Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn (1726-1784) [36] 12 và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1782-1840) [24]… Mặc dù tư liệu ở mức độ khái lược nhưng giúp thế hệ sau phần nào hiểu được sinh hoạt văn hóa dân gian của người Tày ở Việt Nam trong các thế kỷ trước. Sau khi đất nước thống nhất 1975, nhất là những năm gần đây, ngày càng có nhiều học giả nghiên cứu về người Tày. Dự tính đến thời điểm hiện tại có trên 120 đầu mục tài liệu gồm sách và tạp chí viết về người Tày, ở đó đề cập đa dạng các vấn đề từ nguồn gốc tộc người, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, tôn giáo và văn học nghệ thuật.
Chủ đề hôn nhân, gia đình, đặc biệt phong tục cưới xin là một trong những khía cạnh đời sống thu hút quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Một trong cuốn sách đầu tiên nghiên cứu về văn hóa Tày sau năm 1975 kể đến là ấn phẩm Văn hóa Tày Nùng của các tác giả Hà Văn Thư và Lã Văn Lô (1982) [121]. Cuốn sách đề cập đến nhiều khía cạnh văn hóa của người Tày, Nùng như tín ngưỡng tôn giáo, sinh đẻ, ma chay, tiếng nói, chữ viết. và một phần nhỏ về hôn nhân.
Các đặc điểm hôn nhân như tuổi kết hôn, nguyên tắc trong quan hệ hôn nhân, các bước tiến hành hôn nhân được diễn giải cơ bản, có thể xem như khởi đầu, đề dẫn cho các nghiên cứu hôn nhân sau này. Giả dụ như nhận định: “hôn nhân ở vùng Tày, Nùng có tính chất mua bán. 42] được nhiều nghiên cứu tiếp nối đề cập. Cuốn sách Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam của Viện Dân tộc học xuất bản năm 1992 [135] góp phần đầy đủ hơn cho nghiên cứu tổng quan về người Tày.
Ở phần viết về hôn nhân, mặc dù các tác giả chỉ dành hơn 20 trang sách trong tổng số 332 trang sách nhưng cho thấy rõ nét đặc điểm hôn nhân của người Tày từ các nguyên tắc kết hôn, việc tìm hiểu, cư trú sau hôn nhân, nghi lễ đám cưới. Các vấn đề được đề cập trong sách góp phần định hình cho các nghiên cứu hôn nhân sau này nói chung và người Tày nói riêng. 13 Vào năm 1994, nghiên cứu của tác giả Đỗ Thúy Bình [6] về Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam có thể xem là nghiên cứu đầu tiên tập trung ở khía cạnh hôn nhân và gia đình dù tập hợp 3 tộc người cùng ngữ hệ. Ở phần nghiên cứu về hôn nhân, tác giả tìm hiểu nhiều về Luật hôn nhân gia đình, những đánh giá đặc điểm hôn nhân được minh chứng bằng các số liệu điều tra xã hội học.
Có lẽ đây là phương cách ít người làm với thể loại chủ đề này tại thời điểm đầu những năm 1990 nhưng có giá trị thiết thực với những ai tiếp nối nghiên cứu về hôn nhân của người Tày trong so sánh với người Nùng, Thái sau này. Cùng trong năm 1994, các tác giả Hoàng Quyết, Tiến Dũng [101] xuất bản ấn phẩm Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc. Việt Bắc là địa danh phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bao trùm nhiều tỉnh ở miền núi phía Bắc và nay gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Với tựa đề về phong tục tập quán, các tác giả đã dành toàn bộ Chương II để viết Phong tục tập quán về lễ cưới và Lễ cưới.
Ở phần này, các tác giả miêu tả rõ ràng các bước chuẩn bị cho lễ cưới như tiền bạc, lợn, tham gia phường họ bạn, giúp người khác về vật chất, tìm ướm chọn con dâu tương lai, đưa con trai ra xã hội. Mỗi vấn đề là một câu chuyện được kể về cách thức chuẩn bị đi cùng quan điểm xã hội đặt ra với nó. Sự phân định rành mạch như vậy giúp người đọc dễ hiểu, dễ nắm bắt nội dung nghi lễ cưới của người Tày. Dựa trên nghiên cứu đã có, năm 1995 tác giả Triều Ân hợp tác cùng Hoàng Quyết [2] xuất bản cuốn sách riêng về Tục cưới xin của người Tày.
Sách gồm hai phần nội dung chính: Tục cưới xin và lễ cưới và Thơ quan làng, pả mẻ. Ở phần Tục cưới xin và lễ cưới phần nhiều được các tác giả tiếp nối và bổ sung từ cuốn sách Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc (1994) bởi vậy không có nhiều điểm mới trong nghiên cứu. Nhưng phần hai về Thơ quan 14 làng, pả mẻ là tư liệu rất có giá trị tham khảo trong nghiên cứu hôn nhân người Tày. Thơ được dùng trong các tình huống đối đáp giữa ông quan làng, bà pả mẻ là những người đại diện nhà trai và nhà gái trong ngày cưới, được các tác giả sưu tầm tại các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái (Bắc Kạn, Thái Nguyên), Tuyên Quang, Yên Bái, Hà Giang.
Năm 1997, tác giả Nguyễn Thanh Nga [88] có bài viết về Phong tục cưới xin cổ truyền của người Tày ở Cao Bằng, được đăng tải tại phần Tư liệu dân tộc học trên Tạp chí Dân tộc học nên lượng thông tin, phân tích, đánh giá khoa học không cao. Tuy nhiên, đây là nghiên cứu đầu tiên về hôn nhân của người Tày tại Cao Bằng, có thể dùng để so sánh thấy điểm tương đồng và khác biệt với hôn nhân của người Tày ở nhiều địa phương khác trước đó. Đến năm 2001, có một cuốn sách riêng về hôn nhân của người Tày ở tỉnh Cao Bằng của các tác giả Hoàng Tuấn Nam và Bế Thanh Tuyền với tiêu đề Việc dựng vợ gả chồng của người Tày ở Cao Bằng [86]. Các tác giả đều là người Tày, như Hoàng Tuấn Nam (chủ biên) là người Tày ở huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng nên nguồn tư liệu có tính chính xác cao khi trực tiếp viết về tộc người và địa phương của họ.
Tuy nhiên, tư liệu đơn thuần mô tả, ít phân tích, đánh giá. Phần một quyển sách tập trung diễn giải các bước tiến hành hôn nhân, phần hai là các bài thơ quan làng, pả mẻ sưu tập được. Vào năm 2010, tác giả La Công Ý [140] sau 30 năm gắn bó với sự nghiệp nghiên cứu dân tộc học đã xuất bản cuốn sách trên 400 trang về tộc người của ông với tiêu đề Đến với người Tày và văn hóa Tày. Đây là công trình dày dặn đề cập nhiều lĩnh vực từ nguồn gốc lịch sử tộc người, ngôn ngữ, sinh kế truyền thống, đời sống vật chất, quan hệ hệ xã hội, văn hóa phi vật thể và những thành tựu hiện nay.
Nguồn tư liệu được đúc kết từ các nghiên cứu có trước, quá trình nhiều năm thực tế trải nghiệm với lối viết chắc chắn đã tạo nên tổng quan tương đối hoàn chỉnh về người Tày. Phần nghiên cứu về hôn 15 nhân và gia đình trong chỉnh thế đó được miêu tả, diễn giải chi tiết, có sự so sánh khác biệt hôn nhân của người Tày ở các vùng khác nhau.