Đặt vấn đề sinh kế trong điều kiện tự nhiên của vùng người Tày cư trú, trong mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại, trong mối quan hệ với các nhân tố khác. Một trong những luận điểm của Mác cho rằng “Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội”, một trong những mặt cơ bản của tồn tại xã hội là Phương thức sản xuất (phương thức sống) - là yếu tố quyết định, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Theo Ănghen, con người trước hết cần có ăn, mặc, ở, đi lại.nghĩa là những thứ cần thiết nhất đáp ứng cho nhu cầu tồn tại. Vì thế, việc nghiên cứu sinh kế của một tộc người có vị trí rất quan trọng trong ngành Dân tộc học/Nhân học.
Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu này là sự kết hợp giữa phân tích các nguồn tài liệu thành văn và thu thập thông tin trên thực địa bằng các phương pháp trong điền dã dân tộc học như: - Quan sát tham gia - một phương pháp tiêu biểu của Dân tộc học/Nhân học được thực hiện trên thực địa, kết hợp với ghi âm, chụp ảnh nhằm thu thập tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu. - Phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm tập trung nhằm thu thập thông tin định tính, mang tính hồi cố, có chiều sâu và đa dạng. Đối tượng phỏng vấn bao gồm cán bộ lãnh đạo xã, cán bộ phụ trách Nông - Lâm, chủ 23 z tịch Hội Nông dân, Hội phụ nữ, Hội người cao tuổi, trưởng thôn, các chủ hộ gia đình, những người có uy tín trong cộng đồng… - Phương pháp so sánh: Luận văn kế thừa những tài liệu nghiên cứu trước đây trong sự so sánh với tư liệu điền dã. Trong nghiên cứu biến đổi, việc so sánh thông tin thu được sẽ mang tính thuyết phục hơn.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như Phương pháp hệ thống, phương pháp chuyên gia, phương pháp hồi cố. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm sinh kế - Khái niệm chung về sinh kế * Sinh kế (livelihood) được hiểu theo cách thông thường nhất là việc làm, kế sinh nhai hay cách mưu sinh, cách kiếm sống (Từ điển tiếng Việt, Nxb VHTT, 1999). Theo Bùi Đình Toái (2004) thì “Sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn.
Hay nói cách khác sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó”. Sinh kế còn có một số cách hiểu khác rộng hơn và rõ nghĩa hơn. Trả lời câu hỏi what is livelihood – sinh kế là gì?, trang web livelihood.nl đã tổng hợp ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, có thể tóm tắt như sau: “Khái niệm sinh kế được hiểu một cách rộng rãi trong giới học giả và thực hành phát triển là cách và ý nghĩa của việc kiếm sống”. Một định nghĩa khác cũng được chấp nhận khá rộng rãi của Robert Chambers và Gordon Conway là: “Sinh kế bao gồm những năng lực, tài sản (nguồn lực vật chất và xã hội) và những hoạt động đáp ứng cho việc sống”.
Về nguồn lực, theo DFID’s Sustainable 24 z Livelihood Guidance Sheet có 5 loại cơ bản là vốn tự nhiên, vốn con người, vốn xã hội, vốn vật chất, vốn tài chính. Ellis lại đề nghị sinh kế là sự tổng hòa những hoạt động, tài sản và những cách thức quyết định cách sinh sống đạt được bởi một cá nhân hay hộ gia đình. Wallman trong khi tiến hành nghiên cứu về sinh kế ở London vào những năm đầu thập niên 80 đã tiếp cận sinh kế không chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm và xây dựng nơi ở, chuyển tiền và chuẩn bị thức ăn để đặt lên bàn hay trao đổi trên thị trường. Đó còn là vấn đề quyền sở hữu, sự lưu chuyển thông tin, quản lý các mối quan hệ xã hội, sự xác nhận bản sắc của nhóm và đặc trưng cá nhân.
Tất cả những nhiệm vụ mang tính sản xuất đó cùng nhau hợp thành một sinh kế”. Đối với nhà nhân học như Wallman, sinh kế là một khái niệm nền tảng cho thấy đời sống xã hội được phân lớp và những lớp này được chồng chéo lên nhau, cả trong cách thức mà con người nói về họ cũng như trong cách thức mà họ sẽ được phân tích. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của khái niệm sinh kế. Đặc điểm chung của các định nghĩa và giả thiết nói trên là chúng nhấn mạnh một ý tưởng được chấp nhận rộng rãi rằng sinh kế liên quan đến con người, các nguồn lực của họ và cách thức họ đối mặt với chúng.
Sinh kế xoay quanh các nguồn lực như đất đai, mùa màng, hạt giống, lao động, trí thức, gia súc, tiền nong…nhưng những nguồn lực này không thể tách rời vấn đề tiếp cận và thay đổi những tình trạng chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Sinh kế còn là vấn đề tạo ra và nắm bắt các cơ hội mới. Sinh kế tộc người: được hiểu theo nghĩa hẹp hơn là những hoạt động, cách thức mà tộc người đó lựa chọn phương thức kế sinh nhai. Ở mỗi tộc người khác nhau, mỗi vùng địa lý khác nhau, mỗi quốc gia khác nhau thì phương thức kiếm sống cũng khác nhau.
Qua đó phản ánh bức tranh sinh kế tộc người rất đa dạng. 25 z Vấn đề xuyên suốt được đặt ra trong quá trình phát triển của bất cứ lĩnh vực nào là phát triển bền vững. Vậy thì sinh kế bền vững là gì? Theo hai nhà nhân học Chambers và Conway, “một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được hết tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ. Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như những thay đổi bất ngờ.
Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai”. - Khái niệm “Biến đổi sinh kế” của người Tày Biến đổi sinh kế của người Tày là khái niệm để chỉ sự thay đổi trong phương thức kiếm sống (mưu sinh) của người Tày dưới tác động của sự thay đổi về điều kiện tự nhiên, môi trường sống và nhiều nhân tố khác. Sinh kế truyền thống của người Tày ở Tân Thanh chủ yếu là canh tác nông nghiệp với các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, làm vườn. Bên cạnh đó còn có trồng rừng, làm nghề thủ công và hoạt động trao đổi, mua bán tại chợ phiên.
Từ khi Đổi mới (1986) đến nay và trực tiếp nhất là việc xây dựng khu kinh tế cửa khẩu ở xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã làm cho sinh kế của người Tày ở đây biến đổi mạnh mẽ theo hai chiều hướng: Thứ nhất là sự chuyển đổi trong sinh kế truyền thống (thay đổi về cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa); thứ hai là sự xuất hiện thêm các nguồn sinh kế mới đem lại thu nhập cho họ như đi làm thuê bên Trung Quốc, bốc vác, cùng với các hoạt động kinh doanh, dịch vụ…Điều đó đã thể hiện những năng động vươn lên trong sinh kế, đồng thời cũng thể hiện những thích ứng của tộc người Tày ở đây để sinh tồn ở vùng biên giới. Một số khái niệm khác Vùng biên giới (borderland, border region): được hiểu là một khu vực địa lý gần đường biên (borderline), trong đó có các cộng đồng cư dân sinh sống và các cộng đồng này có thể có cùng bản sắc văn hóa tộc người mặc dù họ có thể bị chia cắt bởi một đường biên giới lãnh thổ quốc gia. Như 26 z vậy,vùng biên cần được xem xét như một không gian văn hóa – xã hội, các mối quan hệ qua lại của cư dân ở trong và ngoài biên giới cùng sự tác động trong quản lý của Nhà nước đối với khu vực giáp biên đã tạo nên các thuộc tính biên cương của cư dân và hình thành nên khu vực biên giới. Kinh tế vùng biên: là tổng hợp các hoạt động kinh tế khác nhau ở khu vực biên giới đất liền.
Phát triển kinh tế vùng biên là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và một số lĩnh vực khác của các tỉnh biên giới nói riêng và của một nước nói chung. Khu kinh tế cửa khẩu. Khu kinh tế cửa khẩu ở nước ta là một không gian kinh tế xác định, do Chính phủ và Thủ tướng quyết định thành lập. Ở đó có dân cư sinh sống và được áp dụng những cơ chế, chính sách phát triển đặc thù, phù hợp với đặc điểm từng địa phương sở tại nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất dựa trên việc quy hoạch, khai thác và sử dụng, phát triển bền vững các nguồn lực.
Hƣớng tiếp cận Lý thuyết Trong nghiên cứu về phát triển nông thôn và giảm nghèo trong thời gian qua, vấn đề sinh kế và sinh kế bền vững đã trở thành mục tiêu phân tích ở những cấp độ khác nhau. Trong đó, Khung sinh kế bền vững được coi là một cách tiếp cận toàn diện về các vấn đề phát triển thông qua việc thảo luận về sinh kế của con người và đói nghèo trong các bối cảnh khác nhau. Nó có nguồn gốc từ phân tích của Amartya Sen về các quyền (entitlements) trong mối quan hệ với nạn đói và đói nghèo và gần đây được Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development - DFID) thúc đẩy cũng như được các học giả cùng với các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi.