phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung chính gồm 3 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về tộc ngƣời Cao Lan xã Lục Sơn, hyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Chƣơng 2: Hôn nhân truyền thống của ngƣời Cao Lan ở xã Lục Sơn, huyện Lục Nam. Chƣơng 3: Những biến đổi trong hôn nhân của ngƣời Cao Lan ở xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, nguyên nhân và xu hƣớng hiện nay. 9 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƢỜI CAO LAN XÃ LỤC SƠN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG 1. Vị trí địa lý và lịch sử hình thành vùng đất 1.
Vị trí địa lý Lục Sơn là xã vùng cao, nằm dưới chân sườn Tây Bắc dãy Yên Tử, thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Trung tâm xã cách trung tâm huyện lỵ (thị trấn Đồi Ngô) 35km và tỉnh lỵ (thành phố Bắc Giang) 55km về phía Bắc. Nhìn trên bản đồ hành chính, vị trí địa lý xã Lục Sơn nằm ở điểm cực đông của huyện Lục Nam. Phía đông tiếp giáp xã Tuấn Đạo và xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động; phía tây tiếp giáp xã Trường Sơn (Lục Nam); phía nam tiếp giáp hai xã An Sinh, xã Tràng Lương của huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; phía bắc tiếp giáp xã Bình Sơn (Lục Nam).
Tính theo trục tây - đông, điểm địa đầu xã Lục Sơn là dốc Đìa Đô (thôn Chồi) giáp danh xã Trường Sơn; điểm phía tây là Đèo Bụt giáp danh với xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, chiều dài gần 15 km. Trục bắc - nam, đoạn ngắn nhất từ dốc Đìa Đô đến mốc địa giới hành chính 364, giáp xã An Sinh, xã Tràng Lương (huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh) dài 8km. Xã Lục Sơn có tổng diện tích tự nhiên là: 9668,08 ha; diện tích đất canh tác 909,38 ha chiếm 10% diện tích đất tự nhiên, còn lại là đất rừng. Diện tích đất rừng là: 8180, 28 ha, trong đó: rừng sản xuất 5828,28 ha rừng, đặc dụng: 2352 ha [Báo cáo của Ban địa chính xã năm 2017].
Địa hình xã Lục Sơn tuy hiểm trở, nhiều núi cao, suối sâu nhưng các tuyến giao thông liên thôn, liên xã nằm trên bình địa (tương đối bằng phẳng), ít đèo dốc cho nên việc đi lại khá thuận lợi. Tỉnh lộ 293 chạy qua xã với chiều dài chừng 14 km. Con đường này phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nối liền các khu di tích Côn Sơn, Kiếp Bạc, Chùa La, Suối Mỡ, Yên Tử. Hiện nay, một con đường mới được mở rộng từ Yên Dũng lên tây Yên Tử được gọi là con đường tâm linh.
Từ đây, có thể mở ra hướng phát triển và giao lưu không chỉ giữa các nhóm dân cư trên địa bàn xã, huyện, mà còn cả giữa Bắc Giang với các tỉnh - thành lân cận 10 z 1. Lịch sử hình thành vùng đất Thời Lý - Trần (thế kỷ 11- 14), miền đất Lục Sơn ngày nay thuộc huyện La Ngạn - Lục Na, châu Bắc Giang. Dưới thời Lê - Mạc (thế kỷ 15- 16), thuộc huyện Lục Ngạn, đạo/xứ/trấn Kinh Bắc. Dưới thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 17- 18), thuộc tổng Vô Tranh, huyện Lục Ngạn, phủ Lạng Giang, xứ/trấn Kinh Bắc.
Theo tài liệu Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ của Ngô Vi Liễn đầu thế kỷ XX, Lục Sơn thuộc tổng Vô Tranh, huyện Lục Ngạn. Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), trấn Kinh Bắc đổi thành trấn Bắc Ninh thì miền đất này lại thuộc tổng Vô Tranh, huyện Lục Ngạn, trấn Bắc Ninh. Năm 1831, nhà Nguyễn thay đổi đơn vị hành chính trấn thành tỉnh thì Lục Sơn thuộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1889, niên hiệu Thành Thái nguyên niên, chính quyền Pháp thành lập tỉnh Lục Nam được gần hai năm thì giải thể, khi đó Lục Sơn thuộc tổng Vô Tranh, huyện Lục Ngạn, tỉnh Lục Nam.
Đến năm 1957, thành lập huyện Lục Nam, phần đất xã Lục Sơn ngày nay thuộc xã Yên Sơn B, thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Ngày 28/7/1958, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Nghị định số 241 - NV về việc chia một số xã của huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Chia xã Yên Sơn B thành hai xã: Bình Sơn và Hùng Sơn thì Lục Sơn khi đó là xã Hùng Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang [57, tr 131]. Ngày 27/10/1962, Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ 5 đã hợp nhất tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc và chính thức đi vào hoạt động từ đầu năm 1963.
Trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, Lục Sơn mang tên mới là xã Hùng Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Hà Bắc. Tên gọi Lục Sơn, huyện Lục Nam có từ năm 1965, trước là xã Yên Sơn B. Từ 28/7/1958, chia thành 2 xã Bình Sơn và Hùng Sơn, năm 1965, xã Hùng Sơn đổi thành xã Lục Sơn [56, 218]. Ngày 15/4/1963, Thủ tướng chính phủ ra Chỉ thị số 23 - TTg đổi tên xã Hùng Sơn của huyện Lục Nam thành xã Lục Sơn.
Tên gọi hành chính chính thức được sử dụng từ năm 1971. 11 z Năm 1997, tỉnh Hà Bắc chia thành hai tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh thì Lục Sơn thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và giữ nguyên địa danh hành chính từ đó đến nay. Dân cư xã Lục Sơn Tính đến ngày 26/7/2018, xã Lục Sơn có 2 125 hộ, 8 327 nhân khẩu với 8 tộc người cùng chung sống [Số liệu trong Báo cáo 6 tháng đầu năm 2018 của UBND xã Lục Sơn]. Đông nhất là người Kinh có 3.720 người (chiếm 44,6% dân số của cả xã), sống tập trung phần lớn ở các thôn như: Vĩnh Tân, Hổ Lao 3, Hổ Lao 4, Đám Trì, Chồi 1, Chồi 2, Thọ Sơn.
Đông thứ hai là người Dao với số dân là 2. Đông thứ ba là tộc người Cao Lan có khoảng 1.819 người sống ở các thôn Trại Cao, Khe Nghè, Rừng Long (chiếm 21,8 %). Trong đó thôn Khe Nghè có 79 hộ với 319 nhân khẩu ; thôn Trại Cao có 92 hộ với 366 nhân khẩu; thôn Rừng Long có 165 hộ với 695 nhân khẩu. Ngoài ra, còn có các tộc người khác như Thổ, Tày, Sán Dìu, Hoa là những tộc rất ít người chưa được 100 khẩu (chiếm 7,6% dân số của xã) sống xen kẽ trong các làng bản, tuy phong tục tập quán của có khác nhau nhưng quần tụ cùng nhau chung sống trên mảnh đất này.
Ngƣời Cao Lan: Cao Lan là một trong hai nhóm của dân tộc Sán Chay (Cao Lan - Sán Chí). Trước đây, các học giả người Pháp coi người cao Lan là một bộ phận của tộc người Dao. Người Cao Lan còn được gọi là người Trại. Cho đến nay, người Cao Lan ở Bắc Giang vẫn tự nhận mình là người của tộc Cao Lan (Hờn Bán), có tiếng nói riêng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (52, tr 278).
Theo kết quả khảo sát ở các huyện/địa phương có nhiều người Cao Lan sinh sống, thì nguồn gốc của người Cao Lan ở Bắc Giang là từ Quảng Đông, Quảng Tây, Dương Châu, Quý Châu (Trung Quốc) di cư sang Việt Nam, vì những lý do khác nhau đã đến và định cư được 300 năm. Đến Việt Nam, người Cao Lan cư trú ở một số huyện của tỉnh Quảng Ninh, sau đó di cư đến các huyện miền núi tỉnh Bắc Giang [57, tr 278]. 12 z Cuốn Lịch sử họ Dương (bản Khe Nghè) do ông Dương Văn Cao (Hội trưởng họ Dương, mất năm 2010) cùng Hội đồng gia tộc biên soạn cho biết: Họ Dương vốn ở tỉnh Quảng Tây, di cư đến Quảng Đông vào năm 1748. Năm 1768 đến Hoành Bồ, Ba Chẽ (Quảng Ninh).
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 một nhóm người Cao Lan từ Đá Bờ đến Đèo Gia (Lục Ngạn), một nhóm đến Vĩnh Ninh (nay thuộc xã Lục Sơn, huyện Lục Nam) rồi sau này lập nên bản Trại Cao, hay còn gọi là trại Cao Lan vào năm Duy Tân thứ 2 (1908) [40, tr 8]. Ban đầu người Cao Lan sống theo lối du canh du, cư phát nương làm rẫy trên các cánh rừng, sườn núi. Đến thời kỳ hòa bình, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, với chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng bào dần chuyển xuống các lũng thấp bên sông và sống định canh theo phương thức làm ruộng nước, canh tác hoa màu, ổn định tại các thôn bản như hiện nay. Những kinh nghiệm trong sản xuất của họ chẳng kém gì người Tày - Nùng hay người Việt [58, tr 151].
Ở Lục Sơn, dân tộc Cao Lan cư trú ở Khe Nghè, Rừng Long, Trại Cao với nhiều dòng họ khác nhau như họ: Nịnh, Tống, Đàm, Trần, Tô, Tơ, Phan, Dương,… Mỗi dòng họ của người Cao Lan có một trưởng lại và bao gồm nhiều ngành, chi, thứ. Trong đó, họ Tống được coi là chiếm đa số so với các họ khác của người Cao Lan ở Lục Sơn. Hoạt động kinh tế chủ yếu Cũng như các tộc người thiểu số khác sinh sống ở vùng núi thấp, người Cao Lan lấy việc trồng trọt lúa nương và cây lương thực khác trên đất dốc là là hoạt động kinh tế chủ đạo. Ngoài ra họ cũng tận dụng những khoảnh đất bằng phẳng để trồng lúa nước.
Tất cả những hoạt động khác như chăn nuôi, thủ công gia đình, trao đổi buôn bán hay săn bắt/bắn, hái lượm đều là những hoạt động kinh tế phụ mang tính chất bổ trợ cho trồng trọt. Hoạt động sản xuất này vừa là đặc điểm chung của những tộc người sống ở trung du và miền núi, vừa là đặc điểm riêng của người Cao Lan ở Bắc Giang. Kinh tế nông nghiệp Trồng trọt Trong xã hội truyền thống, phương thức trồng trọt trên nương rẫy là hoạt động nông nghiệp chủ đạo của người Cao Lan. Người Cao Lan thường chọn những nơi có địa hình tương đối bằng phẳng như sườn đồi, bãi trống, chân ruộng thấp để làm nương rẫy.
Trong quá trình sản xuất, theo phong tục, trước khi bước vào hai vụ chiêm - mùa, người Cao Lan tiến hành làm lễ cầu mưa. Lễ này được tổ chức một năm hai lần vào tháng 2 và tháng 6. Đầu năm, đồng bào làm lễ vào ngày mồng 2 tháng 2 (âm lịch) gọi là cầu vụ chiêm. Lần hai tổ chức vào ngày mồng 2 tháng 6 gọi là lễ cầu đại mùa.
Chỉ khi đã làm xong lễ này, người dân mới được bắt tay vào việc cấy trồng. Các giống lúa người Cao Lan có nhiều loại: Lúa nếp (hau liu) là loại lúa có thân cây cao, năng suất trung bình, hạt thóc mầu sẫm, gạo trắng và thơm. Loại nếp này đồng bào thường dùng làm bánh dày. Một lễ vật phổ biến dùng để cúng tế trong các dịp lễ tết.
Đặc biệt, đây là sính lễ không thể thiếu trong nghi lễ hôn nhân của người Cao Lan.