Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC TRẠNG DÂN SỐ, DÂNTỘC 1. Những vấn đề cơ bản về dân số 1. Dân số và quy mô dân số * Dân số: Dân số "là tập hợp người sống trên lãnh thổ được đặc trưng bởi quy mô, cơ cấu, mối quan hệ qua lại với nhau về mặt kinh tế, bởi tính chất của sự phân công lao động và cư trú theo lãnh thổ” [21]. * Quy mô dân số: “Quy mô dân số được hiểu là số lượng người sống trên một lãnh thổ (xã, huyện, tỉnh, quốc gia, vùng…) tại một thời điểm xác định” [21].
Đây là một đại lượng biến động theo thời gian, sự biến động đó gọi là động thái của dân số. Gia tăng tự nhiên (Rate of Nataral Increase- RNI) - Dân số của một lãnh thổ tăng hay giảm trước hết là kết quả của mối tương quan giữa số sinh và số tử. Sự biến động này gọi là gia tăng dân số tự nhiên. Tỷ suất gia tăng dân số tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến tình hình biến động dân số và được coi là động lực phát triển dân số.
- Tỷ suất gia tăng dân số tự nhiên được xác định bằng hiệu số giữa tỷ suất sinh thô và tỷ suất tử thô trong một thời gian xác đinh, trên một lãnh thổ nhất định. Công thức tính (Đơn vị: %): CBR CDR RNI= 10 Trong đó: RNI : Tỷ suất gia tăng tự nhiên CBR: Tỷ suất sinh thô CDR: Tỷ suất tử thô 9 c * Tỷ suất sinh thô: được sử dụng rất rộng rãi trong dân số học. Đó là tỷ suất giữa số trẻ em được sinh ra trong năm so với số dân trung bình ở cùng thời gian ấy với đơn vị tính (‰). Tỷ suất sinh thô được tính theo công thức: B CBR = x 1000 P Trong đó: CBR: Tỷ suất sinh thô B: Số trẻ em sinh ra trong năm P: Dân số trung bình năm * Tỷ suất tử thô: trong dân số học có nhiều loại tỷ suất tử vong.
Phổ biến nhất là tỷ suất tử vong được tính bằng tỷ số giữu số người chết trong năm so với dân số trung bình ở thời điểm đó, đơn vị tính (‰). Tỷ suất tử thô được tính theo công thức: D CDR = x 1000 P Trong đó: CDR: Tỷ suất tử thô D: Số người chết trong năm P: Dân số trung bình năm Tỷ suất gia tăng tự nhiên còn có thể xác định bằng hiệu số giữa sinh và số tử trong năm so với số dân trung bình cùng thời điểm, đơn vị tính bằng phần trăm (%) công thức tính như sau: B-D RNI = x 100 P Trong đó: RNI: Tỷ suất gia tăng tự nhiên B: Số trẻ em sinh ra trong năm còn sống D: Số người chết trong năm P : Dân số trung bình ở cùng thời điểm 10 c 1. Gia tăng cơ học Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, gia tăng cơ học là sự di chuyển của dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm tạo nên một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định, có 2 bộ phận cấu thành của một quá trình di dân là xuất cư và nhập cư. - Tỷ suất nhập cư (Immigration Rate - IR) là tương quan giữa người nhập cư đến một lãnh thổ trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính (%) cách tính: I IR = x 100 P Trong đó: IR: Tỷ suất nhập cư I: Số người nhập cư đến vùng trong năm P : Dân số trung bình của vùng trong năm - Tỷ suất xuất cư (Emigration Rate - ER) là tương quan giữa số người xuất cư khỏi một vùng lãnh thổ trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính bằng (%) cách tính: O ER = x 100 P Trong đó: ER: Tỷ suất xuất cư O: Số người xuất cư khỏi vùng trong năm P : Dân số trung bình của vùng trong năm - Tỷ suất chuyển cư thực (Net Migration Rate - NMR)còn được tính là hiệu số giữa tỷ suất nhập cư và tỷ suất xuất cư (Đơn vị: %).
IR OR MNR= 10 Trong đó: NMR: Tỷ suất chuyển cư thực IR: Tỷ suất nhập cư OR: Tỷ suất xuất cư 11 c Tỷ suất gia tăng cơ học còn được tính là tương quan giữa số người nhập cư và số người xuất cư trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính bằng phần trăm (%) cách tính: IO NMR= 100 P Trong đó: NMR: Tỷ suất gia tăng cơ học I: Số người nhập cư đến vùng trong năm O: Số người xuất cư khỏi vùng trong năm P : Dân số trung bình năm 1. Gia tăng dân số “Cơ cấu DS là một khái niệm dùng để chỉ tập hợp những bộ phận hợp thành DS của một lãn thổ (nhóm nước, từng nước, từng vùng.) được phân chia dựa trên những tiêu chuẩn nhất định” [21]. Tùy theo mục đích khảo sát người ta có thể chia cấu trúc dân số theo các tiêu chí xã hội, kinh tế, hôn nhân hay sinh học. Trong đó cơ cấu sinh học của DS (cơ cấu theo tuổi, cơ cấu giới tính) là vấn đề quan tâm hàng đầu về cơ cấu DS.
* Cơ cấu DS theo nhóm tuổi: Là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo những lứa tuổi nhất định. Thông qua tương quan của số dân ở các nhóm tuổi có mối quan hệ qua lại với các đặc trưng DS, xã hội và kinh tế của dân cư. Cơ cấu DS theo nhóm tuổi thể hiện được tình hình sinh, tử, khả năng phát triển DS và nguồn lao động của một lãnh thổ: Có 2 cách phân chia độ tuổi dựa theo các thang bậc khác nhau. - Cơ cấu tuổi theo khoảng cách không đều nhau thông thường người ta chia DS thành 3 nhóm tuổi: + Dưới độ tuổi lao động từ 0- 14 tuổi + Trong độ tuổi lao động từ 15- 59 tuổi + Trên độ tuổi lao động > 60 tuổi 12 c Trong độ tuổi lao động và trên độ tuổi lao động cơ cấu tuổi này có sự thay đổi theo thời gian và khác biệt giữa các khu vực và quốc gia bởi ảnh hưởng của các yếu tố sinh, tử và di dân.
Nếu một nước mà có mức sinh cao và duy trì trong thời gian dài thì cơ cấu tuổi thuộc mô hình trẻ. Ngược lại nếu mức sinh thấp liên tục trong nhiều năm thì cơ cấu tuổi thuộc mô hình già. - Cơ cấu theo khoảng cách đều nhau. DS được chia theo khoảng cách đều nhau 1 năm, 5 năm hay 10 năm hoặc khoảng cách tuổi không đều nhau tùy theo mục đích nghiên cứu.
* Cơ cấu theo giới tính: “Toàn bộ DS nếu được phân chia thành DS nam hay DS nữ sẽ hình thành nên cơ cấu DS theo giới tính, chỉ tiêu để đo lường cơ cấu DS theo giới tính là tỷ số giới tính (sex ration) là tỷ số giữa DS nam và DS nữ trong cùng tổng thể dân tại một thời điểm nhất định” [5]. Phân bố dân cư, quần cư và đô thị hóa * Phân bố dân cư Vào thủa bình minh của nhân loại, con người sinh sống ở những vùng khí hậu ấm áp thuộc Châu Phi, Châu Á. Bước sang giai đoạn trồng trọt, một bộ phận đã bắt đầu định cư. Địa bàn cư trú của họ lan sang khắp các lục địa, dĩ nhiên trừ một số châu Nam Cực và một số hòn đảo quanh năm băng tuyết của nó.
Ngày nay con người sinh sống gần khắp mọi nơi trên địa cầu từ vùng đất nhiệt đới nóng ẩm đến vùng đất địa cực lạnh giá, từ đồng bằng phì nhiêu đến vùng núi cao chot vót, từ vùng nội địa đến những hòn đảo xa xôi ngoài biển cả. Rõ ràng từ chiếc nôi của nhân loại, con người dần dần phân tán tới các nơi khác trên Trái Đất để sinh sống và tạo nên bức tranh phân bố nhân khẩu của thế giới như ngày hôm nay. Như vậy: 13 c - “Phân bố dân cư là sự sắp xếp một cách tự phát hoặc tự giác trên một lãnh thổ phù hợp với điều kiện sống của họ và các yêu cầu nhất thiết của xã hội” [21]. Để cụ thể hóa phân bố DS cần sử dụng mật độ DS.
“Mật độ DS biểu thị số người trên một đơn vị diện tích đất đai, chỉ số hay sử dụng nhất là số lượng người trên km2 [5]. Trên thế giới, có chỗ đông dân, nhưng có chỗ dân cư lại vô cùng thưa thớt. Thoạt nhìn, chúng ta tưởng như việc cư trú của con người là hoàn toàn tùy tiện. Thực ra, sự phân bố dân cư là một hiện tượng xã hội có tính quy luật.
Thuở mới ra đời, con người còn mông muội. Sự phân bố của họ theo lãnh thổ chủ yếu mang tính chất bản năng, tương tự như việc di trú của một số loài chim tìm nơi ấm áp khi mùa đông lạnh lẽo tới. Với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thời kỳ này nhanh chóng chấm dứt nhường chỗ cho thời kỳ mới, sự phân bố dân cư có ý thức và có quy luật. Ở nhiều nước, do quá trình phát triển công nghiệp ồ ạt và người bạn đồng hành của nó là quá trình đô thị hóa, dân cư ngày càng tập trung vào một số trung tâm công nghiệp và các thành phố lớn.
Tại đây, nhân dân lao động thường phải sống chen chúc trong những khu chật hẹp, thiếu tiện nghi và môi trường ô nhiễm nặng nề. Trong khi ấy, ở các khu nông nghiệp dân cư ngày càng thưa thớt. Ngược lại một số nước đã chú trọng hơn đến việc phân bố dân cư có kế hoạch. Số dân thành thị tăng lên nhanh chóng nhưng vẫn phù hợp với phát triển công nghiệp.
Bên cạnh đó, dân cư còn được phân bố lại ở các vùng thưa dân nhưng giàu tiềm năng nhằm tạo điều kiện khai thác tốt mọi nguồn tài nguyên, tận dụng và điều hòa nguồn lao động giữa c ác vùng trong cả nước. 14 c * Quần cư Quần cư là sự phân bố mạng lưới các điểm dân cư đô thị, các làng bản, phân bố dân cư trong phạm vi lãnh thổ của các điểm dân cư ấy (VD. Quần cư còn được hiểu là tổng hoà của các điểm dân cư và các hình thức khác của sự cư trú (thường trú hay tạm trú) của con người trong phạm vi lãnh thổ nhất định.