PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài người. Việc nhanh chóng vận dụng những thành tựu của khoa học công nghệ đã làm thay đổi cục diện của nhiều khu vực và nhiều nước trên thế giới. Hay nói một cách khác, công nghệ bao giờ cũng quyết định vị trí và thứ bậc phát triển của các quốc gia.
Nếu từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, Trung Hoa thực sự là trung tâm và làm thay đổi thế giới nhờ 4 phát minh công nghệ là thuốc súng, kỹ thuật in, giấy và la bàn nam châm, thì từ thế kỷ XVIII, vị trí này không còn nữa do châu Âu đã vượt qua nước này về công nghệ bằng cuộc cách mạng công nghệ lần thứ nhất với phát minh ra máy hơi nước. Nhờ biết thay thế lao động con người bằng lao động máy móc, nước Anh đã lên ngôi bá chủ thế giới. Một trăm năm sau, cuộc cách mạng công nghệ lần thứ hai trong các lĩnh vực: điện, hóa chất, dược phẩm, ô-tô, hóa dầu. đã khởi phát và tới lượt các nước Đức và Mỹ chiếm ưu thế, còn nước Anh bị bỏ rơi vì không bắt kịp sự phát triển các ngành công nghiệp mới.Lại 100 năm nữa, vào lúc chuyển giao hai thế kỷ XX và XXI, trong cuộc cách mạng công nghệ lần thứ ba, tri thức và việc ứng dụng tri thức vào sản xuất đã đóng vai trò quyết định cho sự giàu có của đất nước.
Lịch sử loài người đã trải qua 3 cuộc cách mạng công nghiệp trên và hiện nay được cho là đang diễn ra cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 với các đột phá công nghệ như hệ thống thực tế - ảo, kết nối internet sự vật – IoT, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, robot, in 3D, cảm biến,… Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tác động sâu sắc đến nền kinh tế thế giới như tổ chức lại chuỗi 1 sản xuất kéo theo thay đổi dòng đầu tư và thương mại quốc tế; tác động đến chuyển dịch cán cân kinh tế thế giới; thúc đẩy các nước nhìn nhận lại mô hình công nghiệp hóa. Ngày nay, phần lớn các nền kinh tế đang thực hiện bước chuyển quan trọng từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Với bước chuyển mình như này cho thấy được nguồn lực khoa học công nghệ đang ngày càng trở nên quan trọng, dần dần nguồn lực này sẽ chiếm vị trí đầu tiên trong tất cả các nguồn lực, là nguồn lực cơ bản nhất đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở xã hội hiện đại và phát triển này. Vai trò quan trọng là thế, nhưng làm như thế nào để có thể ứng dụng nguồn lực khoa học công nghệ này vào trong quá trình phát triển kinh tế? Chính sách phân bổ và ứng dụng nguồn lực này vào thực tiễn ra sao? Làm thế nào để có thể phát huy được toàn bộ sức mạnh của nguồn lực? Có rất nhiều câu hỏi quan trọng và cần thiết để từ đó chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn về nguồn lực khoa học công nghệ.
Từ những kinh nghiệm và kế thừa những thành quả từ trước, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã tiếp tục phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng, không ngừng sáng tạo dựa trên những thành tựu của đời trước để tạo ra những sáng kiến, phát minh vĩ đại cho đời sau. Ví dụ cụ thể nhất cho thấy sự phát triển thần kì dựa trên việc ứng dụng khoa học công nghệ - đất nước Nhật Bản giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Dù là nước thua trận, xong chỉ sau một thời gian ngắn, nhờ vào những ứng dụng trong công nghệ, Nhật Bản đã dần trở thành một trong những nền kinh tế thị trường nổi bật trên thế giới. Bằng việc tận dụng những khoa học công nghệ dở dang và được bảo tồn, người dân Nhật Bản đã kế thừa và phát huy, đẩy mạnh và phát triển những công nghệ đó lên một tầm cao mới.
Đó là lí do vì sao có một Nhật Bản đã rất thành công trong các ngành sản xuất đòi hỏi tri thức 2 công nghệ cao như sản xuất ô tô, thiết bị điện tử, đặc biệt là các vi điện tử, máy móc thiết bị, tàu, hoá chất… Nếu như có thể tận dụng và sử dụng các nguồn lực công nghệ một cách hợp lý và hiệu quả, kế thừa những tiến bộ khoa học từ những quốc gia phát triển trên thế giới và ứng dụng những thành tựu đó vào trong quá trình phát triển kinh tế, kết hợp với những công nghệ kĩ thuật sẵn có,nguồn lực con người với trình độ cao, các nguồn thông tin cùng với các nguồn tài chính được kêu gọi từ phía Chính phủ hoặc từ các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước, sử dụng và phân bổ có hiệu quả và linh hoạt tất cả các nguồn lực trên; Việt Nam sẽ ngày càng dần hoàn thiện bản thân và ngày càng phát triển hơn nữa. Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài “Phân bổ Nguồn lực khoa học và công nghệ cho phát triển kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam” để cho thấy được tầm quan trọng của khoa học công nghệ và quá trình phân bổ nguồn lực này trong công cuộc phát triển kinh tế cho một quốc gia như thế nào. Và cũng từ những kinh nghiệm của một số quốc gia đi trước, Việt Nam có thể rút ra những bài học trong việc phân bổ nguồn lực này hướng tớinhững công nghệ mới, sáng chế mới nhằm mục đích phát triển kinh tế bền vững. Câu hỏi nghiên cứu Việc sử dụng và phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ có vai trò và tác động gì đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia? Làm thế nào để có thể phát huy được hết sức mạnh của khoa học công nghệ? Dựa trên những nghiên cứu về phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ, thực trạng phân bổ, các chính sách phân bổ ở 3 quốc gia Đan Mạch, Nhật Bản và Mỹ, Việt Nam sẽ làm như nào để xây dựng chính sách và giải pháp để phát 3 triển, phân bổ, sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa? 3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: Đánh giá và luận giải được những tác động, vai trò, thuận lợi và hạn chế trong quá trình phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ của một số nước trên thế giới để từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về phân bổ nguồn lực trong khoa học và công nghệ nói chung và ở ba nước Đan Mạch, Nhật Bản và Mỹ nói riêng. Nghiên cứu cơ sở và đưa ra các chính sách, giải pháp cho việc phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ của Việt Nam trong tương lai. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung vào vấn đề phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ của Đan Mạch, Nhật Bản và Mỹ. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau: phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê và so sánh để khái quát, hệ thống và khẳng định kết quả nghiên cứu. Kết cấu của luận văn Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ.
Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Kinh nghiệm về phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ ở Đan Mạch, Nhật Bản và Mỹ Chƣơng 4. Bài học kinh nghiệm và hàm ý cho Việt Nam Do kinh nghiệm, thời gian và kiến thức còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi còn những vấn đề chưa được hoàn chỉnh, rất mong nhận đươc sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo để bài viết được hoàn thiện và có ý nghĩa thực tiễn hơn. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài người. Theo đó, cùng với việc xuất hiện các cơ hội phát triển mới trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì nguy cơ tụt hậu về kinh tế, khoa học và công nghệ, thông tin… sẽ là những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới; trong đó có Việt Nam. Việt Nam hiện đang trong quá trình vươn mình biến đổi từ nền kinh tế chỉ huy tập trung sang nền kinh tế thị trường. Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế đã và đang tạo ra những bước chuyển dịch lớn về phương thức quản lý nguồn lực, trong đó có nguồn nhân lực (lao động) làm việc tại các ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế, các vùng lãnh thổ.Trong những năm qua, thực hiện cơ chế phân bổ nguồn lực hiệu quả giữa các vùng, các thành phần, các ngành là một trong những giải pháp quan trọng nhằm phục vụ quá trình tái cấu trúc nền kinh tế.
Song một tồn tại đáng lo ngại là hiện nay, khu vực kinh tế nhà nước được hưởng rất nhiều ưu đãi nhưng hiệu quả hoạt động lại kém hơn hẳn khu vực kinh tế tư nhân. Nguồn lực sản xuất của quốc gia bị phân tán, đầu tư công và cả đầu tư tư nhân bị dàn trải; các vùng kinh tế trọng điểm vừa chưa phát huy hết tiềm năng và thiếu tính liên kết trong phát triển. Thực tế này đang đòi hỏi việc xem xét về cơ chế phân bổ nguồn lực hiệu quả, trong đó có nguồn lực khoa học công nghệ. 6 Cho đến nay đã có một số nghiên cứu của các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học trong nước nghiên cứu về thực trạng phân bổ nguồn lực khoa học công nghệ theo các ngành, vùng và khu vực kinh tế.