Phần mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ Lục, Nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương sau đây: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phản biện xã hội Chƣơng 2. Thực trạng phản biện xã hội trên báo điện tử về một số quyết sách của ngành điện Chƣơng 3. Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả phản biện xã hội trên báo điện tử về ngành điện 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI 1.
Những khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 1. Phản biện và phản biện xã hội Phản biện không phải là vấn đề mới, xa lạ mà bản chất của hoạt động này xảy ra thường xuyên ở tất cả mọi nơi, mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Có lẽ ở thời kỳ nào, giai đoạn nào và xã hội nào thì vấn đề phản biện cũng đã xuất hiện và tồn tại ở những mức độ và hiệu quả khác nhau: Theo Đại từ điển tiếng Việt (2013), “Phản biện là việc xem xét, đánh giá chất lượng một công trình khoa học trước hội đồng chấm thi nghiệm thu đề tài” hay là “đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ để lấy học vị trước hội đồng chấm thi”. Trong cuốn sách “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng”, thì “Phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau”.
Thuật ngữ “phản biện” xuất hiện chính thức trong các văn bản hành chính thống gần 20 năm trở lại đây. Đầu tiên là Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30/01/2002 của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động tư vấn phản biện giám định xã hội của Liên hiệp hội khoa học Việt Nam. Tại điều 1, điểm 7 cho rằng: “Phản biện là hoạt động cung cấp các thông tin, tư liệu cùng các ý kiến phân tích, đánh giá tính khả thi và các kiến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án đối với mục tiêu và các điều kiện rằng buộc ban đầu hoặc thực trạng đặt ra”. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nội hàm của phản biện này được đề cập đã dần không còn phù hợp với thực tiễn phát triển và đến ngày 14/2/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 14/2014/QĐ-TTG về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam thay thế quyết định 22/2012.
Tại Quyết định này thì “Phản biện” được chỉ rõ trong điều 2, điểm 2 với nội dung: 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Phản biện là hoạt động đưa ra nhận xét, đánh giá, phê bình và khuyến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án với mục và các điều kiện đã quy định hoặc thực trạng đặt ra”. Như vậy, về mặt nội dung thì thuật ngữ phản biện trong hai quyết định này có sự điều chỉnh bổ sung tinh gọn hơn, sát thực tiễn và yêu cầu công việc. Trong Văn hiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta đã khẳng định: “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ”. Tuy nhiên, đó chỉ là chủ trương, quan điểm lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và với toàn xã hội.
Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, vấn đề này đã chính thức được ghi nhận, yêu cầu của nền báo chí cách mạng Việt Nam nhận thêm nhiệm vụ phản biện xã hội: “Chú trọng nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân đất nước”. Trong cuốn Cơ sở lí luận báo chí, Nxb Lao động, PGS. TS Nguyễn Văn Dững cho rằng: “Phản biện tức là đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra trước hội đồng khoa học. Theo đó, phản biện có nhiệm vụ khẳng định những kết quả đạt được, những thành công nổi trội của công trình, đồng thời nêu ra những hạn chế, khiếm khuyết để tiếp tục hoàn thiện và cuối cùng khẳng định rằng công trình đó đạt được những tiêu chí khoa học cần thiết không.
Như vậy, phản biện khác với phản bác. Phản bác là dùng lí lẽ và lập luận để bác bỏ ý kiến hay công trình của người khác ” [14, tr. Qua các giải luận điểm, ý kiến trên về thuật ngữ “phản biện”. Trong đề tài này thuật ngữ “phản biện” được dùng với ý nghĩa là sử dụng các ý kiến phân tích, nhận xét, đánh giá trên cơ sở những lập luận mang tính chất khoa học để chỉ rõ cái đúng, cái tốt cũng như cái chưa đúng, chưa tốt và biểu thị những ý kiến cá nhân về một vấn đề đó, đưa nó đến gần nhất với chân lý, mang lại lợi ích nhiều hơn, phù hợp với mục tiêu đề ra.
PBXH không phải là hoạt động mới chỉ xuất hiện ở nước ta mà nó đã xuất hiện trong lịch sử hàng nghìn năm về trước. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ sau khi dời 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoa Lư về Đại La, trong tác phẩm Chiếu dời đô, sau khi nêu rõ những lí do, những điều kiện, lợi thế về điểm định đô mới là Đại La, vua Lý Thái Tổ đã hỏi ý kiến của các quan đại thần trong triều về quy định quan trọng này: “…xem khắp nước Việt đó là nơi thắng đại, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sử mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào”. Ở thế kỉ XIII dưới thời nhà Trần, trước họa xâm lược lần thứ 2 (năm 1284) của giặc Nguyên Mông, triều đình đã mở Hội nghị Diên Hồng.
Nội dung chính của hội nghị, vua - tôi và các bô lão đại diện cho trăm họ không phải bàn đến chiến lược, chiến thuật quân sự mà chỉ bàn: “nên đánh hay nên hòa”. Chính vì thế Hội nghị Diên Hồng vốn được xem như Hội nghị dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Sau khi thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, rồi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã thường xuyên phát huy tinh thần dân chủ, “lấy dân làm gốc, tất cả lợi ích đều vì nhân dân”. Do đó, những vấn đề hệ trọng liên quan đến quốc kế dân sinh đều được bàn bạc kỹ lưỡng trong tập thể Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương, chính phủ, thậm chí là lấy ý kiến của nhân dân… Ví dụ như: Cuộc tổng tuyển cử Quốc hội khóa đầu tiên năm 1946, bầu cử bằng hình thức phổ thông đầu phiếu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất coi trọng việc tham gia, đóng góp ý kiến của nhân dân “không chỉ riêng viết sách, viết báo mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”. Như vậy, có thể thấy trong lịch sử nước ta, tư tưởng về phản biện và PBXH đã xuất hiện rất sớm. Đã có nhiều quan điểm, nhiều việc làm thể hiện tính phản biện của người dân về các chủ trương, quyết sách của triều đình trước đây hay công việc của Đảng, của chính phủ sau này. Tuy nhiên, nó xuất hiện còn rời rạc, chưa có hệ thống và không có cơ chế để thực hiện phản biện một cách rõ ràng.
Sau năm 1986 khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa… Xuất phát từ đó, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục phát huy tinh thần 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân chủ, coi trọng những ý kiến tham gia đóng góp của nhân dân với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, để đảm bảo trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mọi chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đều đáp ứng được nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Theo quy chế giám sát và PBXH của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội Ban hành kèm theo Quyết định số 217/QĐ- TW ngày 12/12/2013 của Bộ chính trị, thì “PBXH là việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước”. Trong cuốn sách Phản biện xã hội (câu hỏi đặt ra từ cuộc sống), Nxb Đà Nẵng, năm 2006, tác giả Trần Đăng Tuấn cho rằng: “PBXH là đưa ra các lập luận, phân tích nhằm phát hiện, chứng minh, khẳng định, bổ sung hoặc bác bỏ một đề án (phương án, dự án) xã hội đã được hình thành và công bố trước đó” [49, tr. Từ những lí luận về báo chí, dư luận xã hội và thực tiễn đời sống báo chí hiện nay, khái niệm PBXH được xem xét trong môi trường rộng lớn và mối quan hệ giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước với báo chí, với công chúng và ngược lại.
Ở đây PBXH được xem xét là một khái niệm chính trị - xã hội, về thực chất là sự phản biện của nhân dân. Trong luận văn này thì PBXH của báo điện tử về ngành điện được hiểu là hoạt động phổ biến, cung cấp thông tin nhiều chiều về việc xây dựng, thực hiện, kiểm tra, giám sát chính sách của ngành điện đến với mọi người dân; đồng thời phát huy tinh thần dân chủ xã hội, mọi người đều tham gia, góp ý, thảo luận hoặc biểu thị sự đồng tình hay không đồng tình trên cơ sở các lập luận mang tính khoa học và thực tiễn… một cách đúng đắn, hợp lí và đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng. Báo điện tử và phản biện xã hội trên báo điện tử Trên thế giới và ở Việt Nam đang tồn tại rất nhiều cách gọi khác nhau đối với loại hình báo chí này: Báo điện tử (Electronic Journal), báo trực tuyến (Online Newspaper), báo mạng (Cyber Newspaper), báo chí internet (Internet Newspaper) và báo điện tử. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Được ra đời vào tháng 5 năm 1992, Chicago Tribune là tờ báo điện tử đầu tiên trên thế giới.
Từ đó, báo điện tử đã có sự phát triển một cách chóng mặt khi chỉ 8 năm sau đó, ước tính con số báo điện tử đã lên tới 8.