ĐẶT VẤN ĐỀ Quốc gia có tính đa dạng cao về tài nguyên sinh vật không thể không nhắc đến Việt Nam, đặc biệt là tài nguyên động vật hoang dã (ĐVHD). Tuy nhiên, trước tình trạng nhiều loài ĐVHD bị suy giảm nghiêm trọng do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, môi trường sống bị thu hẹp, nạn săn bắt, buôn bán trái phép và nhu cầu về các sản phẩm từ ĐVHD không ngừng gia tăng thì việc gây nuôi sinh sản, sinh trưởng các loài ĐVHD là một trong những giải pháp cần được quan tâm, khuyến khích, nhằm gắn mục tiêu phát triển kinh tế với chiến lược bảo tồn lâu dài các loài này. Theo nhiều nhận định, nếu như kết hợp tốt giữa gây nuôi gắn với bảo tồn thì không những không làm suy giảm số lượng các loài ĐVHD có giá trị kinh tế, mà còn tạo điều kiện cho chúng sinh trưởng, phát triển, sinh sôi để phục hồi số lượng của một số loài ngoài tự nhiên. Trước thực tế đó, gây nuôi ĐVHD đã trở thành một nghề không những góp phần phát triển kinh tế xã hội, mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc bảo tồn thiên nhiên [14].
Theo Đỗ Kim Chung (2007), gây nuôi ĐVHD góp phần bảo tồn ngân hàng gen vô cùng quý hiếm mà thiên nhiên đã tích lũy trong hàng triệu năm và có vai trò không nhỏ trong việc điều chỉnh cân bằng sinh thái trong tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học [12]. Hoạt động gây nuôi sinh sản, sinh trưởng các loài ĐVHD đã xuất phát từ lâu và đang phát triển mạnh trong những năm gần đây. Tuy nhiên, hầu hết các hoạt động gây nuôi ĐVHD vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, chưa được thực hiện đúng hướng dẫn, quy trình quy phạm gây nuôi chưa mang tính hệ thống, mà chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của từng cơ sở nuôi. Nhu cầu và thị hiếu của thị trường đối với ĐVHD và các sản phẩm của chúng lớn, một mặt thúc đẩy phát triển gây nuôi, mặt khác gây xáo trộn và không bền vững cho việc gây nuôi một cách chân chính.
Nhiều vấn đề phát sinh như: Lợi dụng Giấy chứng nhận đăng ký gây nuôi để đưa những cá thể ĐVHD được bẫy, bắt ngoài tự nhiên bổ sung vào số lượng vật nuôi; buôn bán, trao đổi các loài 2 không có nguồn gốc, xuất xứ hoặc nuôi tự phát, không đăng ký hoạt động gây nuôi với cơ quan chức năng… Hiện nay, nghề gây nuôi ĐVHD đã mang lại nguồn lợi kinh tế và giải quyết được một phần lao động nhàn rỗi ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, số lượng loài cũng như cơ sở gây nuôi chưa nhiều, còn manh mún, nhỏ lẻ, kỹ thuật gây nuôi còn hạn chế nên chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường ngày càng tăng về các loại lâm đặc sản này. Để phục vụ nhu cầu xã hội nói chung và góp phần bảo vệ các loài ĐVHD nói riêng thì yêu cầu thực tế đặt ra là cần phải quản lý chặt chẽ việc săn bắt, buôn bán nguồn ĐVHD, đồng thời cấp phép gây nuôi để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trường. Gây nuôi các loài ĐVHD một mặt bảo tồn được loài trong tự nhiên, mặt khác đem lại hiệu quả kinh tế cho người gây nuôi.
Nghề nuôi ĐVHD hiện nay còn khá mới mẻ ở nhiều địa phương trong cả nước, trong đó có tỉnh Quảng Bình. Trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, còn khá ít thông tin về thực trạng gây nuôi ĐVHD ở địa phương; chưa có nhiều công trình nghiên cứu nhằm đưa ra được các giải pháp thiết thực, hiệu quả để thúc đẩy và phát triển hoạt động gây nuôi ĐVHD trên địa bàn tỉnh. Xuất phát từ thực trạng nêu trên và tính cấp thiết của vấn đề đặt ra, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác gây nuôi ộng vật hoang dã tại tỉnh Quảng Bình”. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên ĐVHD ở tỉnh Quảng Bình, giảm áp lực săn bắt, khai thác từ rừng tự nhiên; tạo điều kiện đẩy mạnh gây nuôi có kiểm soát các loài ĐVHD quý hiếm, các loài có giá trị kinh tế cao, các loài thế mạnh của tỉnh; đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả công tác gây nuôi ĐVHD ở các cơ sở nuôi và quản lý gây nuôi ĐVHD ở các cơ quan quản lý; góp phần mang lại kiến thức, kinh tế cho người nuôi, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và đảm bảo cung cấp đủ nguồn giống cả về số lượng và chất lượng, từ đó đáp ứng nhu cầu của thị trường về các sản phẩm từ ĐVR.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Động vật hoang dã và các khái niệm liên quan Theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, ĐVR nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thì: - Cơ sở nuôi bao gồm cơ sở nuôi sinh trưởng, nuôi sinh sản loài ĐVR nguy cấp, quý, hiếm và/hoặc loài ĐVHD nguy cấp thuộc các Phụ lục CITES và/hoặc loài ĐVR thông thường không vì mục đích thương mại hoặc vì mục đích thương mại. - Nuôi sinh trưởng là hình thức nuôi giữ con non, trứng của các loài ĐVHD khai thác từ tự nhiên để nuôi lớn, cho ấp nở thành các cá thể con trong môi trường có kiểm soát. - Nuôi sinh sản là hình thức nuôi giữ ĐVHD để sản sinh ra các thế hệ kế tiếp trong môi trường có kiểm soát.
- Vì mục đích thương mại là bất kỳ hoạt động giao dịch nào đối với mẫu vật loài ĐVHD nhằm mục đích lợi nhuận. - Không vì mục đích thương mại là các hoạt động phục vụ ngoại giao; nghiên cứu khoa học; trao đổi giữa các vườn động vật, bảo tàng; triển lãm trưng bày giới thiệu sản phẩm; biểu diễn xiếc; trao đổi, trao trả mẫu vật giữa các Cơ quan quản lý CITES. - ĐVR thông thường là các loài ĐVR thuộc các lớp thú, chim, bò sát, lưỡng cư và không thuộc: Danh mục loài ĐVR nguy cấp, quý, hiếm do Chính phủ ban hành hoặc Danh mục các loài thuộc Phụ lục CITES; Danh mục động vật được nuôi, thuần hoá thành vật nuôi theo quy định của pháp luật về chăn nuôi. 4 - Bộ phận của ĐVHD nguy cấp là bất kỳ thành phần nào ở dạng thô hay đã qua sơ chế (như bảo quản, làm bóng.) có khả năng nhận dạng được của loài đó.
- Dẫn xuất của các loài động vật là toàn bộ các dạng vật chất được lấy ra từ động vật như: Máu, dịch mật của động vật; hoặc là các phần của động vật đã được chế biến như là thuốc, nước hoa, đồng hồ, túi xách. - Mẫu vật các loài ĐVHD nguy cấp bao gồm ĐVHD còn sống hay đã chết, trứng, ấu trùng, bộ phận, dẫn xuất của các loài đó. - Môi trường có kiểm soát là môi trường có sự quản lý của con người nhằm tạo ra những loài thuần chủng. Môi trường có kiểm soát phải đảm bảo các điều kiện để ngăn ngừa sự xâm nhập hoặc phát tán của động vật, gen, dịch bệnh ra ngoài hoặc vào trong môi trường đó.
- Thế hệ F1 gồm các cá thể được sinh ra trong môi trường có kiểm soát, trong đó có ít nhất bố hoặc mẹ được khai thác từ tự nhiên. - Thế hệ F2 hoặc các thế hệ kế tiếp gồm các cá thể được sinh ra trong môi trường có kiểm soát bởi cặp bố, mẹ thế hệ F1 trở đi [8]. Theo Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 234 về tội vi phạm quy định về bảo vệ ĐVHD và điều 244 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của bộ luật hình sự thì: - ĐVHD quy định tại Điều 234 của Bộ luật Hình sự là các loài động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, ĐVR nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp. - ĐVHD khác quy định tại Điều 234 của Bộ luật Hình sự là các loài ĐVR thông thường theo quy định của pháp luật và ĐVHD nguy cấp thuộc Phụ lục III Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
5 - Động vật nguy cấp, quý, hiếm quy định tại Điều 244 của Bộ luật Hình sự là các loài động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, ĐVR nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp. - Cá thể là một cơ thể động vật còn sống hoặc đã chết. Cũng được coi là cá thể đối với cơ thể động vật đã chết mà thiếu một hoặc một số bộ phận cơ thể (ví dụ: cá thể tắc kè đã chết thiếu nội tạng hoặc cá thể hổ đã chết thiếu chân). - Bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống là những bộ phận thực hiện các chức năng chuyên biệt của cơ thể động vật, ngay khi tách rời những bộ phận này khỏi cơ thể sống của động vật thì động vật đó chết (ví dụ: đầu, tim, bộ da, bộ xương.
- Sản phẩm của ĐVHD, động vật nguy cấp, quý, hiếm là các loại sản phẩm có nguồn gốc từ động vật (ví dụ: thịt, trứng, sữa, tinh dịch, phôi động vật, huyết, nội tạng, da, lông, xương, sừng, ngà, chân, móng.); động vật thủy sản đã qua sơ chế, chế biến ở dạng nguyên con; vật phẩm có thành phần từ các bộ phận của ĐVHD, động vật nguy cấp, quý, hiếm đã qua chế biến (ví dụ: cao nấu từ xương ĐVHD; túi xách, ví, dây thắt lưng làm từ da ĐVHD). - Động vật lớp khác quy định tại Điều 244 của Bộ luật Hình sự là động vật nguy cấp, quý, hiếm ngoài lớp thú, lớp chim, lớp bò sát nhưng thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, ĐVR nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp [14]. Thuật ngữ mô hình gây nuôi được sử dụng trong Luận văn này nhằm thể hiện tương ứng với mỗi loài gây nuôi tại các cơ sở nuôi khác nhau sẽ là mỗi mô hình gây nuôi khác nhau.