phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có ba chương: Chƣơng I: Lịch sử nữ quyền và hành trình nghệ thuật của Nguyễn Thị Kim Hòa Chƣơng II: Ý thức nữ quyền trong văn xuôi Nguyễn Thị Kim Hòa qua hệ thống nhân vật nữ Chƣơng III: Sắc thái nữ quyền trong văn xuôi Nguyễn Thị Kim Hòa nhìn từ phƣơng diện biểu hiện 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: LỊCH SỬ NỮ QUYỀN VÀ HÌNH TRÌNH NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN THỊ KIM HOÀ 1. Khái lƣợc về lịch sử nữ quyền Chủ nghĩa nữ quyền (Feminism) là một trào lưu tư tưởng chống lại chế độ nam quyền, đòi quyền bình đẳng cho người phụ nữ. Trong văn học, nhà văn đã lên tiếng bảo vệ người phụ nữ, thể hiện rõ ý thức về bình đẳng giới. Theo sự vận động và phát triển, lí thuyết nữ quyền đã du nhập vào Việt Nam.
Nhìn về dòng chảy của văn học Việt Nam đương đại, ta thấy xuất hiện ngày càng nhiều những cây bút nữ mang âm hưởng nữ quyền. Khái niệm nữ quyền Theo Từ điển Cambiridge, nữ quyền là niềm tin nữ giới được trao cho các quyền, cơ hội giống như nam giới và được đối xử theo cùng một cách. Theo từ điển Oxford, nữ quyền là sự ủng hộ quyền của phụ nữ trên cơ sở bình đẳng giới.Bhasin đưa ra quan điểm của mình về nữ quyền như sau: “Nữ quyền là sự nhận thức về quyền lực lực gia trưởng, sự bóc lột ở các cấp độ vật chất và tư tưởng về lao động, sinh sản, và tình dục của phụ nữ trong gia đình, ở nơi làm việc và trong xã hội nói chung; và hành động có ý thức của phụ nữ và nam giới làm biến đổi tình trạng đó” [42]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2007, Hoàng Bá Thịnh đưa ra nhận định nữ quyền là “đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ với niềm tin dựa trên nguyễn tắc rằng phụ nữ phải có các quyền và cơ may trong cuộc sống như nam giới về chính trị, kinh tế, luật pháp,…” [42].
Hiểu theo nghĩa từ nguyên, nữ quyền là quyền lợi của người phụ nữ. Cụ thể, nữ quyền là: “Quyền bình đẳng của phụ nữ trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và giáo dục. Khái niệm “nữ quyền” ở cấp độ rộng là quyền lợi của người phụ nữ trong tương quan với nam giới để đạt đến cái gọi là “nam nữ bình quyền”. Ở cấp độ hẹp thì “nữ quyền” có mối liên quan với các khái niệm như “giới tính”, “phái tính” là những công cụ để khu biệt đặc tính giữa hai phái (nam/ nữ) thì khái niệm “nữ quyền” không chỉ dừng lại đó mà mục đích của nó hướng tới là sự bình quyền của nam nữ, đồng thời tạo ra hệ quy chuẩn riêng của nữ giới.
Như vậy, nữ quyền là quyền lợi bình đẳng của người phụ nữ so với nam giới trên mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội. Và nữ quyền trong văn học là tiếng nói phản kháng mạnh mẽ của những cây bút nữ để đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho người phụ nữ. Người cầm bút đã giãi bày những trăn trở, suy tư về hiện thực cuộc sống và thông qua đó họ thẳng thắn bày tỏ vị trí, vai trò và quyền lợi của nữ giới. Và đặc biệt, qua văn chương, người phụ nữ trong xã hội đã cho thấy sự bình quyền giữa nam và nữ.
Họ không ngần ngại để thổ lộ những điều thầm kín, bày tỏ những khát vọng giải phóng những uẩn ức bên trong sâu thẳm tâm hồn. Sự ra đời và phát triển của nữ quyền luận Nữ quyền là môt phạm trù lịch sử. Vào năm 1830, thuật ngữ phong trảo nữ quyền (Feminism) lần đầu tiên được đưa ra và đến năm 1837, nó chính thức được đưa vào trong cuốn từ điển Pháp. Trải qua mỗi thời đại, trên mỗi 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vùng lãnh thổ, vấn đề nữ quyền lại được đề cập tới với những biểu hiện khác nhau.
Từ khoảng năm 1848 đến 1918, đây là thời kỳ đấu tranh đầu tiên của phong trào nữ quyền. Cuộc cách mạng Pháp đặt những dấu mốc đầu tiên, được đánh dấu bằng sự ra đời cuốn Biện minh cho quyền phụ nữ của Mary Wollstonecraft – “tổ mẫu của chủ nghĩa nữ quyền”. Cuốn sách có nội dung trọng tâm là hướng sự quan tâm vào giáo dục bình đẳng giới và sự tham gia tích cực của phụ nữ vào các ngành nghề của nam giới. Những hoạt động bước đầu của người phụ nữ đã đặt những viên gạch nền móng vững chắc để họ có thể đi xa hơn trong cuộc đấu tranh dành bình quyền.
Đến với nước Mĩ, làn sóng nữ quyền thứ nhất tập trung vào sự đấu tranh cho quyền phụ nữ về chính trị, đặc biệt là quyền bầu cử. Người phụ nữ muốn xác nhận vị trí và vai trò của mình trong xã hội. Từ năm 1918 đến năm 1968, đây được coi là làn sóng nữ quyền thứ hai. Những nhà lí luận nổi tiếng ở giai đoạn này là: Saint Simon (1760 - 1825), Charles Fourier (1772 - 1837) người Pháp và Robert Owen (1772 - 1858) người Anh.
Tiêu biểu hơn cả là Marie olympe de Gouge - tác giả của bản tuyên ngôn nhân quyền về giới nữ, là người đầu tiên trên thế giới đứng lên đòi quyền lợi cho người da đen. Ở một số nước phương Tây, do quyết liệt đấu tranh, người phụ nữ đã được hưởng quyền bầu cử và ứng cử. Sau khi có quyền công dân trong tay, họ nhận thấy bản thân vẫn bị đối xử bất công. Cùng chung sống trong một xã hội nhưng người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi so với nam giới về tiền lương và bị lạm dụng tình dục… Trước thực trạng đó, phụ nữ lại một lần nữa cùng nhau đứng lên, đấu tranh liên quan đến vấn đề cải cách xã hội như: tự do ở trường học cho trẻ; chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nghèo và cần chấm dứt việc lạm dụng tình dục… Chính 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự trỗi dậy của các nước phương Tây đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức của người phụ nữ phương Đông.
Họ bắt đầu thấy rõ mình có quyền bình đẳng, ngang hàng với nam giới. Từ năm 1968 đến nay, phong trào đấu tranh cho nữ quyền tiếp tục dậy sóng nhưng tập trung chủ yếu vào những năm 90 của thế kỉ XX. “Làn sóng nữ quyền thứ ba” – thuật ngữ xuất hiện dùng để xác định giai đoạn mới trong lịch sử của thuyết nữ quyền luận. Làn sóng này hướng sự quan tâm đến sự khác biệt bên trong người phụ nữ.
Các lý thuyết thuộc làn sóng thứ ba bao gồm: Lý thuyết nữ quyền và phát triển, lý thuyết giới và phát triển, lý thuyết nữ quyền các nước đang phát triển và lý thuyết về nữ quyền phụ nữ da đen. Tác giả tiêu biểu là Doris Lessing. The Golden Notebook (Cuốn sổ tay vàng) xuất bản năm 1962 được đánh giá là công trình vĩ đại nhất trong sự nghiệp của bà. Tác phẩm được coi như tuyên ngôn của chủ nghĩa nữ quyền.
Ở Việt Nam, từ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, tư tưởng dân chủ phương Tây cùng với lí thuyết nữ quyền đã du nhập vào Việt Nam tạo nên luồng sinh khí mới. Nếu giai đoạn trước, văn học là mảnh đất riêng dành cho nam giới, những tài năng nổi bật như Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm… được coi là những hiện tượng độc đáo thì đến đầu thế kỉ XX, các tác giả nữ xuất hiện ngày một nhiều. Vấn đề người phụ nữ và ý thức nữ quyền trong đã được thể hiện trong văn học và thu hút giới báo chí vào khoảng nửa đầu thế kỉ XX. Đã xuất hiện hàng trăm tờ báo bằng chữ quốc ngữ và có nhiều tờ báo dành riêng cho người phụ nữ: Nữ giới chung (1918), Phụ nữ tân văn (1929 - 1935), Phụ nữ thời đàm (1930 - 1934), Phụ nữ tân tiến (1932 - 1934), Nữ công tạp chí (1936 - 1938)… 1.
Ý thức nữ quyền trong dòng văn học Việt Nam 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Yếu tố nữ quyền chưa thực sự phát triển mạnh mẽ để trở thành trào lưu lớn trong văn chương ở Việt Nam, tuy nhiên, trong những tác phẩm văn học đã có thể hiện ý thức nữ quyền ở các cấp độ và sắc thái khác nhau. Và kể từ sau năm 1986, ý thức nữ quyền mới được nói đến một cách trực tiếp. Tìm về với đời sống tâm linh của người Việt, ta sẽ thấy tín ngưỡng thờ Mẫu là một trong những tín ngưỡng phổ biến đối với đời sống tinh thần của nhân dân. Sau khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, tôn giáo này đã kết hợp với tín ngưỡng thờ Mẫu tạo nên nét văn hóa sinh hoạt riêng trong cộng đồng người Việt.
Trong những ngôi chùa trên dải đất hình chữ S, ta không khó để bắt gặp hình ảnh của ban thờ Phật và ban thờ Mẫu. Từ đời này qua đời khác, người Việt vẫn truyền tụng những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết về sức mạnh khởi nguyên, giải thích về sự kiến tạo vụ trụ và nguồn gốc giống nòi của người phụ nữ như: Nữ Oa đội đá vá trời, Con Rồng cháu Tiên… Có lẽ bởi vậy, trong sâu thẳm tiềm thức mỗi người dân vẫn luôn trân trọng, giữ thái độ thành kính đối với người phụ nữ. Bước qua dòng chảy của văn học dân gian với những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, tìm về với văn học trung đại, ta thấy rõ trong suốt mười thế kỉ dài đằng đẵng, văn học Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Dưới sức ép của Nho giáo với tư tưởng trọng nam khinh nữ, văn học tập trung hướng tới cái ta chung mang tính quốc gia, dân tộc.
Tuy nhiên, vẫn có những cây bút ghi dấu ấn với một phong cách nghệ thuật riêng, đầy táo bạo và mạnh mẽ như: Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan. Bên cạnh những tác giả nữ, những cây bút nam cũng dành nhiều sự quan tâm đến thân phận của người phụ nữ. Và đến thế kỉ XVIII, trên diễn đàn văn học xuất hiện nhiều sáng tác của Nguyễn Gia thiều, Nguyễn Du, Trần Tế Xương… đậm tinh thần nhân đạo và giá trị nhân văn. Bằng tài năng và trái tim của người nghệ sĩ, họ đã sáng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạo nên những hình tượng nghệ thuật có sức sống lâu bền.
Những thành tựu rực rỡ đó đã trở thành tiền đề cho sự xuất hiện ngày một nhiều của người phụ trên cả phương diện đội ngũ sáng tác và trong cả thế giới nghệ thuật.