Chương 1 KHÔNG GIAN XÃ HỘI TRONG SÁNG TÁC VĂN HỌC VIỆT NAM TRƯỚC TẢN ĐÀ 1. Nông thôn và đô thị trong cấu trúc xã hội Việt Nam thời trung đại 1. Nông thôn trong cấu trúc xã hội Việt Nam thời trung đại Như nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra, cơ cấu xã hội Việt Nam thời trung đại căn bản là cộng đồng làng xã, gắn liền với sản xuất nông nghiệp. Nó vượt qua mọi bão giông của những thay đổi từ các chính thể và triều đại, từ các cuộc chiến tranh và li tán để làm nên những đặc trưng của xã hội, văn hoá Việt Nam, các chuẩn mực và giá trị sống của con người Việt Nam.
X t về mặt tổ chức xã hội, làng xã và quốc gia Việt Nam là hai đối tượng quan trọng nhất đối với người Việt và được tổ chức chặt ch nhất. Chính vì thế, trong cách nói thông thường của người Việt, làng với nước thường đi đôi với nhau. Nếu coi tổ chức nông thôn theo huyết thống là bước phát triển thứ nhất thì tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú là bước phát triển tiếp theo để hình thành nên làng và xóm, đơn vị tổ chức quan trọng nhất của nông thôn Việt Nam như nhận định của G. Condominas: “Trong các không gian xã hội không lớn và nhất là ở vùng nông thôn, người ta dùng các từ về quan hệ họ hàng để xưng hô với tất cả các cá nhân thuộc một thế hệ khác với mình, cho dù họ có họ hàng với mình hay không, đúng là các nhu cầu giúp đỡ lẫn nhau đã củng cố tình thân mật vốn do người ta cùng sống trên một mảnh đất” [2, tr.
Suốt nhiều thế kỷ, làng là đơn vị tụ cư lâu đời ở nông thôn và là nhân tố cơ sở cho hệ thống nhà nước quân chủ tại Việt Nam [37, tr. Làng truyền thống điển hình thời trung đại là một tập hợp những người có thể có cùng huyết thống, cùng phương kế sinh nhai trên một vùng nhất định. Là một 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thiết chế xã hội của nông thôn Việt, có cơ cấu tổ chức phong phú nhưng chặt ch , có tính cộng đồng và tự trị cao, làng Việt ở mặt trái, mang tính kh p kín, bản vị. Song nó lại chính là nơi lưu giữ, bảo vệ một thứ văn hoá bản địa chống lại sự xâm lăng, đồng hoá của văn hoá ngoại lai.
Nói như Trần Đình Hượu “làng là một đợn vị có kinh tế riêng, có ch nh quyền riêng, có tôn giáo riêng, có võ trang và tư pháp riêng” [37, tr. Condominas, ở Việt Nam “làng thật sự là một xã hội có tôn ti rất nặng thống trị” [2, tr. Như chúng ta biết, Việt Nam là một đất nước nông nghiệp. Nhà nước phong kiến Việt Nam tồn tại và vận hành thông qua sự đóng góp tô thuế của các cộng đồng làng xã (chứ không phải sự đóng góp của các lãnh chúa phong kiến như ở châu Âu).
Nó bảo vệ quyền lợi của các cộng đồng làng nói chung, chứ không bảo vệ quyền lợi của các địa chủ. Vì thế mà nhà nước thi hành chính sách trọng nông nên dù “thủ công nghiệp phát triển rộng khắp nhưng không tách khỏi hẳn nông nghiệp, mà phát triển trong qui mô làng xã” [37, tr. Chính điều này đã tạo nên một cơ cấu xã hội thật đặc biệt gồm có ba bộ phận cơ bản sau: Thứ nhất, người nông dân sống trong các gia đình có kinh tế riêng biệt, canh tác trên ruộng của cộng đồng làng xã trên nguyên tắc công điền, công thổ. Thứ hai, các cộng đồng làng tồn tại biệt lập và có tính tự quản cao.
Thứ ba, bộ máy hành chính của Nhà nước tồn tại trên cơ sở tô thuế đóng góp của các hộ gia đình nông dân thông qua các cộng đồng làng xã. Chính chế độ công điền, công thổ dựa trên tính tự quản của các cộng đồng làng xã đã làm giảm bớt phần nào những sự đối kháng quyết liệt trong xã hội, là cơ sở cho một xã hội dựa trên những mối quan hệ thật đặc biệt - quan hệ cộng đồng, đặt lợi ích cộng đồng lên trên hết. Vì thế khi nghiên cứu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com về không gian xã hội ở Việt Nam, G. Condominas đã nhận định: “Tầng lớp nông dân ở dưới đáy của cái xã hội tổng thể rất có tôn ti ấy, nên phải chịu sự đè nặng của xã hội ấy, song, ở cấp độ làng, họ lại có một cuộc sống kiểu dân chủ: những quyết định liên quan đến tập thể không phải do ý muốn của người đứng đầu mà do thảo luận tập thể theo nguyên tắc nhất trí” [2, tr.
Từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIII (từ thời Đinh đến giữa thời Trần), chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất chiếm ưu thế trong xã hội. Đại bộ phận ruộng đất là công điền, công thổ của làng xã; bên cạnh đó còn có ruộng quốc khố của triều đình và ruộng của nhà chùa. Từ giữa thế kỷ XIII trở đi, nền kinh tế dựa trên phương thức sản xuất phong kiến Á châu đã hình thành do chính sách khuyến khích việc mua bán, trao đổi ruộng đất, trong đó có các điền trang với phương thức bóc lột nông nô pha màu sắc của phương thức bóc lột nô lệ. Sự xuất hiện của kinh tế công thương nghiệp và sự gia tăng của trao đổi hàng hoá làm cho tầng lớp địa chủ càng ngày càng giữ vai trò to lớn trong đời sống xã hội, chi phối nhiều mặt hoạt động của xã hội về kinh tế và chính trị.
Khi đó, tầng lớp quý tộc có xu hướng rút về củng cố điền trang của mình, phát triển kinh doanh ruộng đất và điều này làm xuất hiện nguy cơ phân tán về mặt chính trị, dẫn đến khuynh hướng tăng cường bộ máy quan liêu, đề cao Nho giáo, đưa nho sĩ vào nắm dần các chức vụ chủ chốt trong triều đình. Từ giữa thế kỷ XIII, kết cấu giai cấp lãnh đạo trong xã hội đã có sự thay đổi. Nếu trước đây tầng lớp quản lý nhà nước bao gồm quý tộc, công thần, quan liêu, cao tăng thì từ đây, kết cấu tầng lớp quản lý nhà nước bao gồm hai bộ phận rõ rệt: thành phần quý tộc nắm giữ những chức vụ cao nhất trong triều, có nô lệ, ruộng phong, trang ấp riêng…; và thành phần nho sĩ quan liêu đông đảo không phải là quý tộc đóng vai trò thừa hành trong bộ máy quản lý nhà nước. Chính những chuyển biến về sở hữu ruộng đất trong kinh tế và những biến đổi trong kết cấu giai cấp xã hội đã tạo điều kiện cho Nho giáo thâm nhập một 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cách mạnh m vào xã hội trong thời kỳ này.
Sống trong môi trường đó “nhà nho, ngoài việc học và tin theo học thuyết Nho giáo, còn thuộc về một đẳng cấp xã hội: đẳng cấp sĩ phu. Trong xã hội họ có thể làm quan với triều đình hay làm thân sĩ, làm thầy ở làng xã” [37, tr. Vào thế kỉ XV, dưới triều Lê chế độ phong kiến đã được xác lập vững vàng và chuyển sang mô hình Nho giáo với chế độ quân chủ tập quyền mang tính chất chuyên chế và quan liêu ngày càng nặng nề. Từ thế kỉ XVI trở đi, đặc biệt là thế kỉ XVIII, XIX thiết chế cổ truyền dựa trên quan hệ cộng đồng của làng - nước bị suy yếu, nhưng một thiết chế mới xây dựng dựa trên cơ sở phát triển mạnh m của kinh tế hàng hóa, gắn liền độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia với một thị trường dân tộc thống nhất lại chưa có điều kiện hình thành.
Mặc dù “việc buôn bán ở một số đô thị khá sầm uất, nhưng kinh tế hàng hóa không thu hút được nền sản xuất ở các làng xã, không dẫn tới thay đổi tổ chức sản xuất, thay đổi chính trị, xã hội, văn hóa. Chế độ chuyên chế chồng lên các làng xã tự trị, đóng kín với tổ chức xã hội vua quan và tứ dân vẫn dựa vào công điền” [37, tr. Như vậy có thể nói, trước khi có sự can thiệp của phương Tây, xã hội Việt Nam chủ yếu là một cộng đồng làng xã.“Trong xã hội đó, con người sống gắn bó với làng xóm. Họ hàng nội ngoại không những gắn bó với nhau bằng tình máu mủ mà bằng cả một tổ chức có thứ bậc chặt chẽ, bằng cả đạo lý có tính chất tôn giáo.
Họ hầu như thành đơn vị của làng xã. Làng xã có ruộng đất riêng, thành hoàng riêng, phong tục luật lệ riêng [8, tr. Sống trong xã hội đó, có bốn tầng lớp: sĩ, nông, công, thương, trong đó quan trọng nhất về số lượng c ng như về vai trò kinh tế là nông dân, còn người dẫn đạo tinh thần lại là đẳng cấp sĩ - nhà nho [37, tr. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đô thị1 trong cấu trúc xã hội Việt Nam thời trung đại Như nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh, trong lịch sử Việt Nam, từ thời trung đại, đô thị đã được hình thành trên cơ sở những trung tâm văn hóa - hành chính của nhà nước phong kiến: kinh đô và những phủ lỵ ở địa phương. Đến các thế kỉ XVII, XVIII, cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, dù ở mức độ còn hết sức sơ khai, sự phát triển của các đô thị được đẩy mạnh thêm một bước. Đô thị thời kỳ này là nơi tập trung những cơ quan hành chính văn hóa của triều đình phong kiến, những phường thợ thủ công và các cơ sở thương mại dịch vụ, vui chơi giải trí. Đồng thời để phục vụ nhu cầu giải trí của một số tầng lớp cư dân đô thị, những tụ điểm giải trí đã hình thành những hình thức sinh hoạt văn hóa ở ngoài khuôn khổ cung đình và c ng không hề tồn tại trong phạm vi làng xã.
Thành phần cư dân của đô thị ngày càng phát triển phong phú gồm quý tộc, quan lại phong kiến, nho sĩ, thương nhân, thợ thủ công, ca kỹ. với lối sống thường là đi ra ngoài chuẩn mực của xã hội cổ truyền Khổng giáo. Tất nhiên, tính chất trọng nông của nền kinh tế c ng như nền tảng văn hóa - xã hội Nho giáo đặc thù của Việt Nam đã không cho phép những đô thị như Thăng Long, Phố Hiến hay Hội An, Gia Định có thể phát triển thành những đô thị lớn như ở Nhật ản, Trung Quốc hay các nước phương Tây. Tuy vậy tại các trung tâm buôn bán đó, những tầng lớp thương nhân, thợ thủ công… bắt đầu xuất hiện.
Sinh hoạt giao thương đã dần tách khỏi quan hệ sản xuất phong kiến.