MỞ ĐẦU Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới. Xấp xỉ 17,9 triệu người đã tử vong vì bệnh tim mạch mỗi năm. Cứ mỗi 5 người tử vong do bệnh tim mạch thì có 4 người tử vong do nhồi máu cơ tim và đột quỵ, và một phần ba xảy ra ở người dưới 70 tuổi. Hơn ba phần tư tử vong vì bệnh tim mạch xảy ra ở các quốc gia thu nhập trung bình, thấp.
Nguy cơ mắc các biến cố tim mạch mỗi người bao gồm gia tăng huyết áp, đường huyết, mỡ máu cũng như thừa cân và béo phì. Hầu hết các yếu tố nguy cơ có thể dự phòng trước được [64]. Rối loạn mỡ máu là một yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh được. Vào năm 1994, nghiên cứu bản lề “4S” (Scandinavian Simvastatin Survival Study) đã ghi nhận rằng, việc làm giảm LDL-C làm giảm biến cố tim mạch ở bệnh nhân có bệnh mạch vành và tăng cholesterol máu.
Nghiên cứu bản lề này là nền tảng thúc đẩy hiểu biết về vai trò nhân quả của LDL-C trong bệnh lý xơ vữa, khai phá kỉ nguyên mới trong tim mạch học dự phòng. Ngày nay, đã có rất nhiều bằng chứng ủng hộ gia tăng LDL-C là yếu tố nguy cơ tim mạch có thể điều chỉnh được, và các biện pháp điều trị hiện tại, như thuốc ức chế PCSK9 đã có thể giảm trị số LDL-C đến mức chưa thể đạt được trước đây [55]. Trị số LDL-C, xác định gián tiếp hay trực tiếp, gồm lượng cholesterol mang bởi IDL, LDL và lipoprotein (a). Lipoprotein (a) là một lipoprotein đặc biệt, có thành phần tương đồng với LDL và plasminogen.
Chính cấu tạo này đã làm lipoprotein (a) vừa sinh xơ vữa, vừa gây huyết khối, là hai cơ chế quan trọng gây ra hàng loạt biến cố tim mạch. Nhiều nghiên cứu đã giúp thiết lập mối quan hệ nhân quả giữa gia tăng nồng độ lipoprotein (a) huyết thanh với bệnh lý tim mạch, gồm nhồi máu cơ tim, đột quỵ và hẹp van động mạch chủ. Một số thuốc đang được phát triển để làm giảm đặc hiệu lipoprotein (a) huyết thanh, ban đầu cho kết quả rất hiệu quả với đặc tính an toàn cao. Tuy vậy, cho đến ngày nay, chưa có nhiều bằng chứng lâm sàng.
2 chứng minh việc làm giảm lipoprotein (a) huyết thanh có hiệu quả trong dự phòng biến cố tim mạch. Các khuyến cáo về quản lý bệnh nhân hội chứng vành cấp, trong đó có nhồi máu cơ tim cấp đều đề nghị xét nghiệm bộ mỡ máu thường quy gồm Cholesterol toàn phần, HDL-C, LDL-C, Triglycerid với chiến lược can thiệp tích cực cho bệnh nhân. Lipoprotein (a) huyết thanh chưa được khuyến cáo thực hiện thường quy trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp. Hiện tại, tại Việt Nam và trên thế giới, nghiên cứu mô tả nồng độ lipoprotein (a) huyết thanh trên nhóm đối tượng này và liên quan với biến cố tim mạch sau nhồi máu cơ tim cấp còn hạn chế.
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện nhằm trả lời câu hỏi “Bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có đặc điểm lipoprotein (a) huyết thanh như thế nào? Những bệnh nhân nhồi máu cơ tim nào nên được xét nghiệm lipoprotein (a) huyết thanh? Lipoprotein (a) có liên quan với biến cố tim mạch sau nhồi máu cơ tim cấp không?” qua khảo sát tỉ lệ bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có tăng lipoprotein (a), mô tả mối liên quan với các thông số lâm sàng, huyết học, sinh hóa, hình thái sang thương động mạch vành và khảo sát mối liên quan giữa nồng độ lipoprotein (a) với biến cố tim mạch chính, sống còn của bệnh nhân. Nghiên cứu chúng tôi hy vọng sẽ giúp ích cho các nghiên cứu can thiệp lên lipoprotein (a) sau này. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát Mô tả nồng độ lipoprotein (a) huyết thanh ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp, khảo sát mối liên quan giữa nồng độ lipoprotein (a) huyết thanh và biến cố tim mạch chính, tử vong do mọi nguyên nhân ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp. Mục tiêu c uyên biệt 1.
Xác định tỉ lệ bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có nồng độ lipoprotein (a) huyết thanh ≥50 mg/dL và mô tả mối liên quan giữa nồng độ lipoprotein (a) ≥50 mg/dL và các thông số lâm sàng, huyết học, sinh hóa, hình thái sang thương động mạch vành. Khảo sát mối liên quan giữa nồng độ lipoprotein (a) huyết thanh ≥50 mg/dL với biến cố tim mạch chính (gồm tử vong do bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim không tử vong, đột quỵ thiếu máu không tử vong) nội viện và trong vòng 30 ngày sau xuất viện, và với tử vong do mọi nguyên nhân trong 5 tháng theo dõi. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vùng Kringle, apolipoprotein (a), lipoprotein (a) Vùng Kringle là một cấu trúc quan trọng tạo nên apolipoprotein (a), apolipoprotein (a) là thành phần quan trọng tạo nên lipoprotein (a).
Vùng Kringle (Kringle domain) là một đoạn của phân tử protein được gập lại thành quai lớn giữ ổn định bởi 3 liên kết disulfide. Vùng Kringle được tìm thấy ở nhiều protein tham gia vào quá trình đông máu và ly giải cục huyết khối, như plasminogen, hepatocyte growth factor, prothrombin và apolipoprotein (a) [18]. Vùng Kringle được đặt tên theo một loại bánh ở vùng Scandinavi có cấu trúc tương tự (Hình 1.1 Bên trái: bánh Kringle. Bên phải: chuỗi axit amin của một vùng Kringle với 3 liên kết disulfide.
Nguồn: Vetonmaki và cộng sự [63] Khi nhắc đến cấu trúc phân tử của apolipoprotein (a) không thể không nhắc đến plasminogen, vì cấu trúc phân tử plasminogen và apolipoprotein (a) có nhiều điểm tương đồng, đặc biệt liên quan đến các vùng Kringle của 2 phân tử này. Gen quy định tổng hợp apolipoprotein (a) rất đồng dạng với của plasminogen. Trong phân tử. 5 plasminogen có 5 quai Kringle được đặt tên là quai Kringle I, Kringle II, Kringle III, Kringle IV và Kringle V.
Phân tử apolipoprotein (a) được tạo thành từ rất nhiều quai Kringle có cấu trúc giống như quai Kringle IV của plasminogen, chia thành 10 típ (típ 1 đến típ 10), kèm một quai có cấu trúc như quai Kringle V của plasminogen và vùng có hoạt tính protease tương tự như plasminogen (Hình 1. Điều đặc biệt, số lượng quai Kringle IV típ 2 rất thay đổi theo cá thể, có thể từ 2 đến hơn 40 quai, làm apolipoprotein (a) rất đa dạng (Hình 1.2 Số lượng quai Kringle IV típ 2 khác nhau trong apolipoprotein (a) của lipoprotein (a). Trong hình: Trên: cấu trúc phân tử Plaminogen với 5 quai Kringle được đặt tên Kringle I, II, III, IV, V và vùng có hoạt tính protease. Dưới: cấu trúc lipoprotein (a) đa dạng do khác biệt về số lượng quai Kringle IV típ 2 của apolipoprotein (a): 4, 8, 24, 40.
Tên là quai Kringle IV vì cấu trúc quai Kringle này trong apoliporotein(a) giống với quai Kringle thứ IV trong phân tử plasminogen. Trong phân tử apolipoprotein (a) có 10 típ quai Kringle IV, từ típ 1 đến típ 10, trong. 7 đó số lượng quai Kringle IV típ 2 (KIV2) được đề cập trong hình. Nguồn: Tsimikas và cộng sự [58].
Phân tử apolipoprotein (a) liên kết với phần hạt cấu trúc giống LDL (LDL-like particle) tạo nên lipoprotein (a). Hạt cấu trúc giống LDL (LDL-like particle) gồm phần lõi chứa cholesteryl ester (CE) và triglyceride (TG) được bao quanh bởi phospholipid (PL), cholesterol tự do (FC) và một phân tử apolipoprotein B (apoB). Apolipoprotein (a) liên kết với apolipoprotein B (apoB) của phần hạt cấu trúc giống LDL bằng liên kết disulfide (Hình 1.3 Cấu tạo lipoprotein (a). và cộng sự [42] Chính vì cấu trúc rất tương đồng với LDL, ban đầu, khi mới được phát hiện bới Berg và cộng sự vào 1963 [11], lipoprotein (a) được mô tả là một dạng của LDL (“low density lipoprotein variant”) [39], tuy nhiên ngày nay, hầu hết các tác giả xem lipoprotein (a) không phải là một LDL.
Hội Tim Châu Âu (ESC) xem lipoprotein (a) là một trong 6 lipoprotein chính có trong máu (gồm chylomicron, VLDL, IDL, LDL, lipoprotein (a) và HDL) (Bảng 1.1 Đặc điểm vật lý và sinh hóa của các loại lipoprotein huyết thanh người. Nguồn: 2019 ESC/EAS Guidelines for the management of dyslipidaemias [35] Đƣờng Apolipoprotein Tỉ trọng TG CE PL Chol Lipoprotein kính (g/mL) (%) (%) (%) (%) (nm) Chính Khác ApoB- ApoA-I, A-II, Chylomicron <0,95 80–100 90–95 2–4 2–6 1 48 A-IV, A-V ApoB- ApoA-I, C-II, VLDL 0,95–1,006 30–80 50–65 8–14 12–16 4–7 100 C-III, E, A-V ApoB- ApoC-II, C- IDL 1,006–1,019 25–30 25–40 20–35 16–24 7–11 100 III, E ApoB- LDL 1,019–1,063 20–25 4–6 34–35 22–26 6–15 100 ApoA-II, C- HDL 1,063–1,210 8–13 7 10–20 55 5 ApoA-I III, E, M Lp(a) 1,006–1,125 25–30 4–8 35–46 17–24 6–9 Apo(a) ApoB-100 (TG: triglyceride, CE: cholesterylester, PL: phospholipid, Chol: cholesterol) Như vậy, lipoprotein (a) là một loại lipoprotein đặc biệt, từng được xem là một dạng lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL), tuy nhiên, chính phần apolipoprotein (a) của lipoprotein (a) làm lipoprotein này khác biệt với LDL và được xếp là một loại lipoprotein riêng [42]. Cấu tạo phân tử lipoprotein (a) rất đa dạng vì số quai Kringle IV típ 2 của apolipoprotein (a) thay đổi, điều này gây ra khó khăn khi thống nhất kết quả giữa các phương pháp xét nghiệm khác nhau [35]. Số lượng quai được quy định bởi gen LPA [34].
Người có phân tử apolipoprotein (a) chứa nhiều quai Kringle IV típ 2 sẽ có nồng độ lipoprotein (a) máu thấp và ngược lại, người có phân tử apolipoprotein (a) chứa ít quai Kringle IV típ 2 sẽ có nồng độ lipoprotein (a) máu cao (Biểu đồ 1. Một giả thuyết lý giải. 9 điều này là phân tử apolipoprotein (a) càng có nhiều quai Kringle IV típ 2 thì càng mất nhiều thời gian để hoàn chỉnh tổng hợp lipoprotein (a), do đó nồng độ lipoprotein (a) máu sẽ thấp hơn [15].1 Mối liên quan giữa số quai Kringle IV típ 2 và nồng độ lipoprotein (a). Nguồn: Kamstrup và cộng sự [29] Bộ gen người chứa 2 allele quy định số quai Kringle IV típ 2 của phân tử apolipoprotein (a) cơ thể tổng hợp.
Allele quy định số quai Kringle IV típ 2 nhiều sẽ cho ra lượng lipoprotein (a) ít, allele quy định số quai Kringle IV típ 2 ít sẽ cho ra lượng lipoprotein (a) nhiều. Tổng lượng lipoprotein (a) mỗi người sẽ do 2 allele này cộng gộp tạo nên. Người có cả hai allele quy định số quai Kringle IV típ 2 của phân tử apolipoprotein (a) thấp sẽ có nồng độ lipoprotein (a) huyết thanh cao nhất [34]. Nồng độ lipoprotein (a) huyết thanh được quy định chủ yếu bởi gen (80-90%), rất ít bị ảnh hưởng bởi môi trường.
Tế bào gan là nơi sản xuất 99% lượng lipoprotein (a) của cơ thể [61]. Nồng độ lipoprotein (a) được duy trì ổn định không. 10 thay đổi theo thời gian [20]. Xét nghiệm lipoprotein (a) không cần thiết phải lặp lại, trừ tình huống nhà lâm sàng muốn theo dõi hiệu quả can thiệp điều trị [20].