Chương 1. NHỮNG VÁN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH vực KINH DOANH THựC PHẢM 1. Quyền thương mại và bản chất cùa nhượng quyền thương mại 1. Khái quát về quyền thương mại - Đối tượng của nhượng quyền thương mại “Quyển ” là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chi khả năng của mỗi cá nhân, tổ chức được tự do lựa chọn và hành động mà không bị bất kỳ ai ngăn cản, hạn chế, khả năng đó được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực của Nhà nước [43].
“Thương mại” là hoạt động trao đối hàng hóa, dịch vụ giữa hai hay nhiều cá nhân, tổ chức, để nhận lại một giá trị nào đó tương ứng (bằng tiền thông qua giá cá hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác) [46], Theo Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại năm 2005, bản chất của hoạt động thương mại là việc “thực hiện các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhằm mục đích sinh lợi” [32], Theo góc độ kinh tế, “quyền thương mại” có thế được coi là một loại tài sản vô hình, được hình thành trong quá trình thương nhân thực hiện hoạt động thương mại, bao gồm một hệ thống kinh doanh được tồn tại và phát triển dựa trên việc sử dụng nhãn hiệu, mô hình kinh doanh, bí quyết kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, khấu hiệu kinh doanh, quảng cáo, v. Xuất phát từ bản chất quyền thương mại là một loại tài sàn, nên có thể được chuyển giao bởi chủ sở hữu để thu một khoản lợi nhuận. Hình thức chuyển giao này được gọi là nhượng quyền thương mại. Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại do thương nhân có quyền sở hữu đối với thương hiệu, thực hiện chuyển 6 giao các quyên thương mại liên quan đên thương hiệu đó cho một chủ thê kinh doanh khác trong một thời hạn nhất định nhằm thu được khoản phí nhượng quyền.
Quyền thương mại được coi là đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại. Dưới góc độ pháp lý, quyền thương mại có thể hiểu là khả năng của mỗi cá nhân, tồ chức được tự do thực hiện các hoạt động thương mại nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận. Theo đó, “quyền thương mại được hiểu là quyền tiến hành kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo cách thức của bên nhượng quyền quy định, cùng với đó là việc được sử dụng nhãn mác, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo,. của bên nhượng quyền.
Trong quan hệ nhượng quyền thương mại, nội dung cốt lõi chính là việc bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sử dụng quyền thương mại của mình trong kinh doanh. Nhượng quyền thương mại và băn chất của nhương quyền thương mại 1. Định nghĩa Hiệp hội Nhượng quyền thương mại quốc tế (The International Franchise Association - IFA) đưa ra định nghĩa về nhượng quyền thương mại như sau: Nhượng quyền thương mại là một phương thức phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Trong đó, bên nhượng quyền là người sáng lập nhãn hiệu hoặc tên thương mại của thương hiệu và hệ thống kinh doanh.
Bên nhận quyền là người trả tiền bản quyền và thường là phí ban đầu cho quyền kinh doanh dưới tên và hệ thống của bên nhượng quyền, về mặt kỹ thuật, hợp đồng ràng buộc hai bên là “nhượng quyền thương mại”, nhưng thuật ngữ đó thường đề cập đến hoạt động kinh doanh thực tế mà 7 bên nhận quyên hoạt động. Hoạt động tạo và phân phôi thưong hiệu và hệ thống nhượng quyền thường được gọi là nhượng quyền thương mại. [50] Định nghĩa về nhượng quyền thương mại của IFA quy định vai trò của hai bên chủ thể trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, bao gồm chủ thể tạo ra quyền và chủ thể nhận quyền, đặc biệt nhấn mạnh tới nghĩa vụ của bên nhận quyền trong việc đầu tư vốn và điều hành doanh nghiệp. ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (The US Federal Trade Commission - FTC) [52] định nghĩa thuật ngừ "nhượng quyền thương mại" là “một hợp đồng hay thỏa thuận ít nhất là hai bên chủ thể, trong đó bên nhận quyền được cấp quyền bán hay phân phổi sản phẩm, dịch vụ theo cùng một chương trình, kế hoạch kinh doanh của chủ thương hiệu.
Hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền phải triệt để tuân theo kế hoạch tiếp thị, gấn liền với mục tiêu của chủ thương hiệu. Bên nhận quyền phải trả cho chủ thương hiệu một khoản phí nhượng quyền”. [28, trl 1] Tổ chức Liên đoàn Nhượng quyền Thương mại Châu Âu (European Franchise Federation - EFF) đã đưa ra Bộ quy tắc ứng xử đối với nhượng quyền thương mại (Code of Ethics for Franchising) với khái niệm: “Nhượng quyền thương mại là một hệ thống thương mại hóa các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ hoặc công nghệ được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và liên tục giữa các doanh nghiệp độc lập với nhau về mặt tài chính và pháp lý, giữa bên nhượng quyền thương mại và các bên nhận quyền riêng lẻ của mình, trong đó bên nhượng quyền cấp quyển và áp đặt nghĩa vụ cho bên nhận quyền riêng lẻ của mình để tiến hành hoạt động kinh doanh, phù hợp với những điều kiện đặt ra của bên chuyển nhượng.” [23, tr9] 8 Như vậy, từ một sô quan điêm của các tô chức nhượng quyên thương mại trên thế giới, nhượng quyền thương mại có thể được định nghĩa như sau: Nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại giữa bên nhượng quyền là chủ sở hữu của thương hiệu, cho phép bên nhận quyền được quyền kinh doanh theo mô hình và phương thức kinh doanh gấn liền với các đối tượng sở hữu trí tuệ của mình, bên nhượng quyền có quyền và nghía vụ kiểm soát và hỗ trợ bên nhận quyền trong suốt quá trình hai bên tiến hành nhượng quyền thương mại. Các hình thức nhượng quyền thương mại Nhượng quyền thương mại được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí.
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, nhượng quyền thương mại được chia thành hai loại [24, trl5-16]: - Nhượng quyền thương mại trong nước là nhượng quyền thương mại trong phạm vi một quốc gia; - Nhượng quyền thương mại quốc tế là nhượng quyền thương mại trong phạm vi từ quốc gia này đến quốc gia khác. Đối với Việt Nam, hình thức nhượng quyền này có thể được chia nhỏ thêm thành hai loại: nhượng quyền thương mại từ nước ngoài vào Việt Nam và nhượng quyền từ Việt Nam ra nước ngoài. Căn cứ vào phạm vi nhượng quyền thương mại, nhượng quyền thương mại được chia thành bốn loại [51]: - Nhượng quyền riêng lẻ (single-unit franchise): là phương thức nhượng quyền thương mại mà qua đó, bên nhận quyền được bên nhượng quyền cấp quyền kinh doanh tại một địa điểm trong một thời hạn nhất định. Bên nhận quyền theo phương thức này không được quyền nhượng quyền lại cho người khác cũng như không được tự ý mở thêm một cửa hàng mang cùng thương hiệu nhượng quyền.
9 - Nhượng quyên đa cơ sở (multi-unit franchise): là phương thức nhượng quyền thương mại mà qua đó, bên nhận quyền được bên nhượng quyền cấp quyền mở nhiều hơn một cơ sở nhượng quyền trong một thời hạn nhất định - Nhượng quyền phát triển khu vực (area development franchise): là phương thức nhượng quyền thương mại mà bên nhận quyền được cấp quyền độc quyền kinh doanh trong một phạm vi khu vực địa lý trong một thời gian nhất định, và không được phép nhượng quyền lại cho bất kỳ ai. - Nhượng quyền độc quyền (master franchise): là phương thức nhượng quyền thương mại mà chủ sở hữu của thương hiệu cấp cho bên nhận quyền, ngoài quyền mở và vận hành nhiều hơn một cơ sở nhượng quyền trong một phạm vi lãnh thổ nhất định, bên nhận quyền có quyền chuyển giao quyền thương mại cho bên thứ ba dưới hình thức nhượng quyền riêng lẻ hay nhượng quyền phát triển khu vực. Căn cứ vào đối tượng của nhượng quyền thương mại, nhượng quyền thương mại được chia thành bốn loại [25, trl 7-19]: - Nhượng quyền phân phối sản phẩm (product distribution franchise): bên nhận quyền thường không nhận được sự hỗ trợ đáng kể nào từ bên nhượng quyền, ngoại trừ việc được phép sử dụng tên nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu và phân phối sản phẩm hay dịch vụ của chủ thương hiệu trong một phạm vi khu vực và thời gian nhất định. - Nhượng quyền mô hình kinh doanh mẫu (business format franchise) hay còn gọi là Nhượng quyền công thức kinh doanh: là phương thức nhượng quyền thương mại mà theo đó, bên nhận quyền được bên nhượng quyền chuyển giao quy trình kinh doanh, bí quyết kinh doanh, bao gồm đào tạo, lập kế hoạch chiến lược, tiếp thị, quảng cáo, sàn xuất, v.v theo tiêu chuẩn và hướng dẫn kiểm soát chất lượng của minh.
Đây là hình thức nhượng quyền 10 thương mại phô biên nhât hiện nay. Tại Hoa Kỳ, hình thức này chiêm gân % tổng số cửa hàng được nhượng quyền. - Nhượng quyền sán xuất (manufacturing or processing arrangement): bên nhượng quyền cung cấp cho bên nhận quyền thành phần hoặc công thức để sản xuất một sản phẩm, bên nhận quyền phải tự sàn xuất và phân phối sản phẩm đó phù hợp với tiêu chuẩn của bên nhượng quyền. - Nhượng quyền cơ hội kinh doanh (business opportunity venture or joint venture franchising): bên nhận quyền được quyền mua và bán hàng hóa, dịch vụ hoặc một số công việc kinh doanh khác của bên nhượng quyền.
Bên nhượng quyền sắp xếp địa điểm kinh doanh, tìm công việc kinh doanh cho bên nhận quyền thứ cấp, thậm chí còn cung cấp nhân viên kỹ thuật hoặc thương mại cho bên nhận quyền. Bản chất của nhượng quyền thương mại về bản chất, nhượng quyền thương mại có thể được hiểu là hành vi chuyển giao quyền khai thác đối với một thương hiệu của chủ sở hữu cho một chủ thể khác nhằm mục đích sinh lợi. Dựa trên định nghĩa đã rút ra ở trên, nhượng quyền thương mại là hoạt động tạo ra quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể nhượng quyền và nhận quyền. Theo quan điểm đó, bản chất của nhượng quyền thương mại là hợp đồng.
Thuật ngữ Hợp dong “contractus” của La Mã, có nguồn gốc là từ “contrahere” trong tiếng La-tinh, có nghĩa là “ràng buộc”. Thuật ngữ Hợp đồng được sử dụng trong các văn bản pháp lý, các quan hệ hợp đồng được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bộ luật dân sự cùa Pháp ghi nhận định nghĩa về hợp đồng như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên chù thể cam kết với nhau về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó”.